ĐẶT VẤN ĐỀ Hồi (Illicium verum Hook.F) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Tinh dầu Hồi là sản phẩm đƣợc chƣng cất từ lá, quả và hạt, nhƣng chủ yếu từ quả, là nguyên liệu quý trong công nghiệp dƣợc phẩm và thực phẩm. Trong công nghiệp dƣợc phẩm Hồi đƣợc sử dụng để chế biến các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hóa, chống nôn mửa, ức chế sự lên men ruột, long đờm, là thành phần các thuốc trị ho, trị bệnh nấm da và ghẻ, làm giảm đau, giảm co thắt ruột, hoặc chữa trị các bệnh lý đau dạ dày, ruột… Trong công nghiệp thực phẩm quả hồi đƣợc dùng làm gia vị chế biến thức ăn. Ngoài ra, tinh dầu Hồi còn đƣợc làm hƣơng liệu để chế biến các đồ mỹ phẩm cao cấp.
Sau khi ép lấy tinh dầu, bã còn lại dùng đế chế biến thuốc trừ sâu, làm men, than hoạt tính [1], [2]. Hồi đƣợc dùng rộng rãi trong công nghiệp nhẹ nhƣ quấn thuốc lá, sản xuất xà phòng thơm, kem đánh răng, thuốc sát trùng, hƣơng liệu, dùng bảo quản lƣơng thực chống côn trùng gây hại, thuốc đông y… Dùng làm thuốc bảo quản lƣơng thực nhƣ thóc, ngô, đỗ… hiệu quả trên 95% trong thời gian trên 8 tháng [25]. Trong những năm gần đây, do nhu cầu sử dụng tinh dầu Hồi trên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt khi phát hiện ra trong quả Hồi có chứa axit shikimic là nguyên liệu chính để sản xuất thuốc taminflu chữa bệnh dịch cúm gia cầm, nhất là đại dịch A/H5N1 ở ngƣời. Trong thời gian gần đây, Việt Nam cũng đã chuẩn bị cho việc sản xuất Tamiflu với nguyên liệu chủ yếu từ hoa Hồi [2].
Hơn nữa, Hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số vùng sinh thái nhất định, đang đƣợc trồng nhiều ở các tỉnh miền nam Trung Quốc và phía bắc Việt Nam, nên tinh dầu Hồi còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Trong những năm gần đây, do giá trị cao từ cây hồi nên một số nƣớc nhƣ Philippin, Indonexia cũng trồng thử nghiệm nhƣng chƣa thành công, chƣa có các thông báo về sản lƣợng và chất lƣợng các sản phẩm Hồi tại các nƣớc này. Do vậy, tới nay Trung Quốc và Việt Nam vẫn là hai quốc gia sản xuất Hồi chủ yếu trên thế giới. Diện tích Hồi tại Việt Nam hiện nay khoảng 45.625 ha, sản lƣợng trung bình hàng năm thu đƣợc trên 7.000 tấn quả tƣơi, trong đó diện tích Hồi tại Lạng Sơn là 32.060 ha, sản lƣợng quả hàng năm đạt 4.
Ngoài ra, Hồi còn là cây đa mục đích, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngƣời dân vừa có tác dụng che phủ bảo vệ đất cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.vn sinh thái lâu dài và bền vững. Trong chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2001-2010 của chính phủ, Hồi là một trong những cây trồng chính của tỉnh Lạng Sơn. Đặc biệt, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thiện việc đăng bạ xuất xứ hoa Hồi xứ Lạng thì việc nâng cao năng suất, chất lƣợng sản phẩm Hồi để giữ gìn thƣơng hiệu hoa Hồi xứ Lạng là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, hầu hết rừng Hồi tại Lạng Sơn cũng nhƣ các tỉnh lân cận đều là rừng trồng, phần lớn đƣợc trồng bằng những giống chƣa đƣợc cải thiện,và chủ yếu bằng những biện pháp kỹ thuật truyền thống và bằng kinh nghiệm của ngƣời dân, chƣa áp dụng những tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất chất lƣợng.
Phần lớn diện tích Hồi hiện nay đã già cỗi, cho năng suất thấp. Xuất phát từ thực tế nêu trên, để góp phần nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng rừng Hồi ở Lạng Sơn thì việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng tinh dầu hồi (Illicium verum Hook.) tại Lạng Sơn” là cần thiết, có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.vn Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sản phẩm thu hoạch từ cây Hồi chủ yếu là quả Hồi, quả Hồi đã đƣợc sử dụng rộng rãi làm gia vị trong chế biến thực phẩm, đặc biệt là các nƣớc Đông Nam Á và Đông Á. Hồi là thành phần quan trọng trong bột “húng lìu” đƣợc dùng để ƣớp thịt, nhất là với thịt bò, thịt lợn, thịt vịt.
Hồi cũng là gia vị thơm, hấp dẫn không thể thiếu đƣợc trong nƣớc phở. Hồi đƣợc sử dụng trong các ngành công nghiệp chế biến rƣợu khai vị, rƣợu mùi, nƣớc ngọt, bánh kẹo. Mặc dù chỉ với lƣợng rất nhỏ nhƣng hƣơng vị hấp dẫn của Hồi vừa có tác dụng kích thích tiêu hoá, vừa gây cảm hứng ngon miệng. Không chỉ ở Châu Á mà ở các nƣớc Châu Âu (Pháp, Đức, Ý,…) và Châu Mỹ (Hoa Kỳ, Cu Ba vv…) cũng coi Hồi là loại gia vị đƣợc ƣa thích trong chế biến thực phẩm cũng nhƣ công nghiệp.
Trong danh mục các sản phẩm thƣơng mại an toàn đƣợc sử dụng trong sản xuất thuốc và chế biến thực phẩm của Hoa Kỳ quả hồi đƣợc xếp vào tiêu chuẩn: “GRAS 2095” và tinh dầu hồi có kí hiệu “GRAS 2096” [16], [8]. Trong y học dân tộc cổ truyền của nƣớc ta cũng nhƣ ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… Hồi đƣợc coi là vị thuốc có vị cay, tính ấm, hƣơng thơm vào 4 kinh can, thận, tỳ, vị, có tác dụng trừ hàn, kiện tỳ, khai vị, tiêu thực, sát trùng; dùng chữa bệnh đau bụng, kích thích tiêu hóa, giảm đau, giảm co bóp trong dạ dày, đau ruột, lợi sữa, nôn mửa, đau nhức, thấp khớp, đau lƣng, bong gân, ngộ độc thịt cá và rắn độc cắn vv… Theo Tây y, tinh dầu hồi có tính kích thích, tăng cƣờng nhu động ruột, dùng chữa đau bụng, tăng tiết dịch đƣờng hô hấp, gây trung tiện, giúp tiêu hóa giảm đau, khử đờm. Tinh dầu hồi còn có tác dụng kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của vi khuẩn lao và các vi khuẩn khác nhƣ Candia albian, Salmonella typhi, Shigella flexneri và Baccilus mycoides, vv… Nên dùng làm thuốc trị khuẩn, trị nấm ngoài da và ghẻ lở. Hồi cũng đƣợc dùng trong sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộc, diệt chấy, rận, rệp và một số loài ký sinh ở gia súc.
Cho tới nay, chất lƣợng tinh dầu của Việt Nam và Trung Quốc vẫn đƣợc thị trƣờng đánh giá là loại tinh dầu có chất lƣợng cao và thuộc hàng đầu thế giới. Từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.vn năm 2004, Cục Quản lý thuốc và thực phẩm của Mỹ phát hiện thấy tinh dầu Hồi thu từ Nhật Bản có độc tính cao (do hàm lƣợng cis- anethole vƣợt quá mức cho phép) nên đã cấm sử dụng trong các lĩnh vực chế biến thực phẩm, đặc biệt là cấm sử dụng quả hồi Nhật Bản trong quy trình chế biến “Trà hồi”. Ngoài giá trị lấy tinh dầu, gỗ Hồi có mùi thơm, thớ đều và mịn có thể dùng làm cột nhà, đóng đồ gia dụng thông thƣờng. Về giá trị môi trƣờng, cây Hồi có thể kết hợp trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, là cây đa mục đích.
Do cây Hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số nƣớc trên thế giới nên các công trình nghiên cứu loài cây này cũng rất hạn chế. Tuy nhiên, cũng có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu ở cả trong và ngoài nƣớc nhƣ sau: 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI Do Illicium verum Hook.f là loài cây có phân bố hẹp, nên ở các nƣớc trên thế giới việc nghiên cứu về cây Hồi chỉ có chủ yếu ở Trung Quốc. Trung Quốc đã có nhiều nghiên cứu về phân loại thực vật, chọn giống, nhân giống vô tính, kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật sấy khô, kỹ thuật chƣng cất v.
Từ 20 năm trở lại đây, Quảng Tây đã giành đƣợc nhiều thành tựu to lớn và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác trồng Hồi. Trong đó, bao gồm việc điều tra, nghiên cứu cải thiện giống, nghiên cứu kỹ thuật gây trồng nhằm tăng sản lƣợng Hồi, trồng rừng Hồi sản lƣợng cao, kỹ thuật cải tạo rừng Hồi sản lƣợng thấp, nghiên cứu kỹ thuật chƣng cất và tinh chế tinh dầu Hồi v. Ngoài ra, ngƣời ta còn nghiên cứu kỹ thuật thâm canh nhƣ: bón phân, phòng chống sâu bệnh. Những năm gần đây kỹ thuật chọn giống, gây giống, cấy ghép, trồng Hồi v.
ngày càng đƣợc quan tâm và có nhiều tiến bộ kỹ thuật. Sau đây có thể điểm ra một số thành tựu cụ thể: 1. Những nghiên cứu về phân loại và phân bố Cây hồi đƣợc ngƣời Nhật gọi là quả “Shikimmi” hoặc quả “Skimmi”. Gần đây, ngƣời ta đã phát hiện đƣợc loài hồi Illicium religiosum Sieb, et Zuce, đƣợc trồng nhiều trƣớc các cổng đền chùa giành cho phật giáo ở Nhật Bản.
Chúng là loài Hồi có độc, có các đại nhỏ, không có mùi thơm của trans-anethole nhƣng lại có mùi Sassafras [18]. Ngay từ năm 1890, ngƣời Mỹ đã phát hiện ra 7 loài hồi, trong đó 2 loài đƣợc tìm thấy trên bờ biển Bắc Mỹ thuộc Đại Tây Dƣơng, 2 loài ở Hindostan và 3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.vn loài còn lại đƣợc tìm thấy ở Trung Quốc và Nhật bản. Hầu hết các loài này đều có mùi thơm và hƣơng vị đặc trƣng [18]. Ngày nay ngƣời ta đã phát hiện ra chi hồi (Illicium) gồm có khoảng trên 40 loài, phân bố chủ yếu ở các nƣớc Đông Nam Á, Đông Á và Bắc Mỹ.
Riêng ở các tỉnh phía Nam và tây Nam của Trung Quốc đã xác định đƣợc 21 loài, trong đó có một số loài điển hình nhƣ: Loài hồi Illicium floridanum Ell đƣợc trồng phổ biến rất nhiều ở phía Tây của Châu Mỹ dọc theo bờ biển từ Florida đến vịnh Mêhicô. Loài hồi Illicium parviflorum Vent (I.anisatum Bartr) là loài cây bụi thấp đƣợc tìm thấy trên những vùng đất dốc tại ở Georgia và Carolina, tinh dầu có mùi gần giống mùi cây long não. Loài hồi Illcium griffithii var Hook.et Thoms (hay gọi là hồi núi, Đại Hồi núi) là loại cây thuộc vùng Viễn Đông phân bố ở vùng Đông Dƣơng, Mã Lai. Quả hồi chứa chất độc, tinh dầu có vị chát, thơm và có pha mùi của ớt và hồ tiêu.
Loài hồi Illcium henryi Diels chỉ phân bố ở Quý Châu, Tứ Xuyên, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Thiềm Tây (Trung Quốc), đây là loài cây gỗ nhỏ, quả thƣờng có 8 đại nhƣng nhỏ hơn so với cây Đại hồi (Illicium verum). Loài Hồi Illicium verum Hook.f thuộc họ hồi (Illciaceae), còn đƣợc gọi các tên khác nhƣ hồi sao, hồi 8 cánh, đại hồi hƣơng, bát giác hƣơng, mắc trác. Cây Hồi (Illicium verum Hook.