CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản trong cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về cạnh tranh Theo Micheal E. Porter (1980), cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Như vậy, cạnh tranh có thể diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau như doanh nghiệp, vùng, quốc gia,. Nó vừa là áp lực, vừa là động lực thúc đẩy tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải luôn cố gắng tự hoàn thiện mình và phát triển nhằm mục tiêu giành ưu thế so với các đối thủ khác cùng hoạt động trong lĩnh vực.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một khái niệm đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và trong mỗi lĩnh vực có một quan niệm khác nhau dựa trên các góc nhìn khác nhau. Trong phạm vi bài biết này, tác giả xin trích ra một vài cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh: Là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đã đưa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới.
Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế (Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế). Trong tác phẩm của mình, Micheal E.Porter cũng cho rằng năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tuy nhiên, trong điều kiện mới hiện nay, Năng lực cạnh tranh không chỉ là khả năng tranh đua, tranh giành của các doanh nghiệp về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà còn ở khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, và khả năng sáng tạo sản phẩm mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế.
Như vậy, Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu một cách đơn giản là “khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững”. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng để tạo ra nó. Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn.Porter, 1985, trang 3) Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp.
Do vậy mà các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị xói mòn bới những hành động bắt chước của đối thủ. Khái niệm về nguồn lực: Theo Lê Thế Giới (2011), nguồn lực bao gồm nhiều yếu tố khác nhau như thương hiệu, nhân sự, tài chính, kỹ thuật, tổ chức,… Như vậy, Nguồn lực chính là những yếu tố cần thiết mà một doanh nghiệp cần phải có để hoạt động và phát triển, cung cấp các giá trị cho khách hàng, thị trường. Có hai loại nguồn lực cơ bản: Nguồn lực vô hình: nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng,… Nguồn lực hữu hình: tài chính, công nghệ, nhân sự, vật chất kỹ thuật,… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Trong hai nguồn lực nêu trên, nguồn lực vô hình là nguồn lực có tác dụng tích cực và hiệu quả hơn, vì yếu tố này khó bị các các đối thủ cạnh tranh bắt chước, sao chép hay thay thế. Đây chính là nền tảng cơ bản để doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh, cạnh tranh giành thị phần đối với các doanh nghiệp còn lại trên thị trường Tuy nhiên, tự bản thân nguồn lực không tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Để tạo ra lợi thế cạnh tranh thì nguồn lực đó phải độc đáo và đáng giá. Nguồn lực độc đáo là nguồn lực mà các doanh nghiệp khác không thể có được. Nguồn lực đáng giá là nguồn lực giúp doanh nghiệp tạo ra được sự khác biệt, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra nhu cầu mạnh mẽ về sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy, nguồn lực là các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp duy trì hoạt động, phát triển, cung cấp giá trị đến khách hàng; chỉ những nguồn lực độc đáo và đáng giá mới giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Đặc thù cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng tại các ngân hàng thương mại Đứng trên góc độ nền kinh tế, Ngân hàng vẫn được xem như các doanh nghiệp bình thường, vẫn chịu sự chi phối của pháp luật và những quy luật của nền kinh tế. Chính vì vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng vẫn mang trong nó hầu hết những đặc điểm, tính chất của cạnh tranh trong kinh doanh: đưa ra các sản phẩm, dịch vụ có tính cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng, gia tăng thị phần của mình so với các đối thủ hoặc giành lấy các khách hàng từ trong tay của đối thủ trực tiếp của mình. Tuy nhiên, ngân hàng là một trong những lĩnh vực đặc biệt quan trọng, có sự ảnh hưởng và chi phối không nhỏ đến nguồn vốn trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến hoạt động thường xuyên và liên tục của rất nhiều cá nhân và doanh nghiệp, nên sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng buộc phải chịu thêm một số sự chi phối từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chứ không tự do cạnh tranh như những ngành nghề khác. Cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng của NHTM có một số điểm nổi bật sau: Kinh doanh tín dụng ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh ảnh hưởng đến hầu hết tất cả các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Sự cạnh tranh trong lĩnh vực này luôn được NHNN đặc biệt quan tâm và giám sát chặt chẽ, thường xuyên. Đây cũng là một kênh được NHNN sử dụng để làm phương tiện thực hiện những điều chỉnh cần thiết đối với các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế theo yêu cầu đặt ra trong từng thời kỳ. Ví dụ: NHNN triển khai các gói cho vay hỗ trợ đến các đối tượng như nông dân, ngư dân, những người thu nhập thấp,… Các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với nhau khốc liệt mà còn có “quan hệ hữu cơ” tương đối bền chặt với nhau: Hơn 30 ngân hàng TMCP hiện nay ở Việt Nam đang cạnh tranh với nhau khá gay gắt không chỉ trên lĩnh vực tín dụng, mà còn cả tiền gửi, dịch vụ phi tín dụng,… Tuy nhiên, ảnh hưởng xấu về thương hiệu mà một ngân hàng nào đó phải đối mặt chắc chắn sẽ ảnh hưởng ít/nhiều đến các ngân hàng khác một cách nhanh chóng do hiệu ứng tâm lý lan truyền (hiệu ứng domino). Lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thường không duy trì sự khác biệt quá lâu: Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khi đưa ra thị trường thường bị các đối thủ cùng ngành sao chép khá nhanh chóng.
Cụ thể: Sacombank có CN Gò Vấp chuyên tập trung cho vay tại chợ và trung tâm thương mại, SCB cũng có CN Chợ Lớn với những gói sản phẩm cho vay đặc thù dành riêng cho đối tượng khách hàng là các tiểu thương tại kinh doanh tại Trung tâm thương mại Dịch vụ An Đông và An Đông Plaza. Sacombank có chi nhánh 8/3 dành cho các đối tượng khách hàng là phụ nữ, SCB lại có chi nhánh 20/10 có những chính sách ưu đãi phục vụ riêng cho các đối tượng là phụ nữ đến giao dịch. Cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng nói riêng hay dịch vụ nói chung chính là nâng cao được mức độ thỏa mãn, hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ mà mình cung cấp, từ đó thu hút khách hàng, gia tăng thị phần, sự chi phối của mình đối với các đối thủ còn lại trong nền kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Nhân tố chủ quan: Thương hiệu: Là tài sản vô hình quý giá, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Uy tín và thương hiệu của một doanh nghiệp có được là kết quả của một quá trình nỗ lực, phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu và chiến lược đúng đắn. Nếu sản phẩm hay dịch vụ được tung ra thị truờng thuộc về một doanh nghiệp có thương hiệu mạnh thì nó sẽ kích thích người tiêu dùng, rút ngắn thời gian đưa ra quyết định, lựa chọn sử dụng sản phẩm.
Từ đó, doanh nghiệp có cơ hội hơn trong việc gia tăng thị phần trên thị trường. Sản phẩm dịch vụ: Tín dụng là một dịch vụ khá đặc thù, khác nhiều so với các loại hàng hoá, dịch vụ thông thường trên thị trường.