Chương 1 trình bày tổng quan của nền tảng nghiên cứu và mô tả ngắn gọn về các. vấn đề nghiên cứu, bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu. Ngoài ra, chương, này cũng giải thích tim quan trọng và những đóng góp của nghiên cứu và việc lựa chọn. các phương pháp nghiên cứu.
Chương 2 sẽ hệ thống lại các lý thuyết về năng lực cạnh tranh nhằm phát triển mô. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh Lợi thể cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thủ, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, và kinh doanh có lãi.
Nói đến lợi thé cạnh tranh là nói đến lợi thé ma mot doanh nghiệp, một quốc gia đang có so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vỉ mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp. Lợi thế cạnh tranh bền vững là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Quan điểm của Porter (1980), cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành, đấu trường chính của cạnh tranh, nhằm mục đích tạo lập một vị thế cạnh tranh thuận lợi và bền vững trước những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành. “Theo từ điển bách khoa Việt Nam, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt đông ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh. trong nền kinh tế thị trường bị chỉ phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Tôn Thất Nguyễn Nghiêm thì cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ.
Do đó, trên thị trường, nếu doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì không phải cứ khư khư nghĩ đến cạnh tranh mà còn phải nghĩ đến việc liên kết. Việc liên kết để tạo ra giá trị gia tăng không ngừng cho khách hàng sẽ tốt hơn nếu doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ. Và không phải bao giờ nguyên tắc “Thương trường là chiến trường” cũng phủ hợp trong điều kiện kinh doanh hiện nay. Nhu vay, lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thành công, thường được giải thích thông qua chất lượng dịch vụ góp phần vào giá trị của khách.
hàng, kết quả là gia tăng sự hài lòng và định hướng tiêu dùng, thậm chí tạo ra lòng trung. thành của khách hàng từ đó nâng cao khả năng lợi nhuận của doanh nghiệp. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực.
cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Ở luận văn này, sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thé của doanh nghiệp so với thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày cảng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp. một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình.
Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thê thoả mãn tốt hơn các đồi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. Nhu vay, khái niệm năng lực cạnh tranh của NH có thể được tóm lại như sau “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao. hơn mức trung bình của ngảnh và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bắt lợi của môi trường kinh doanh”. Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc điểm cạnh tranh.
trong lĩnh vực ngân hàng Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NH cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NH cũng tổn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Vì thé, các NH cũng tìm đủ mọi biện pháp đẻ cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng. cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chỉ phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần để đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng. Do vậy, cạnh tranh.
trong NH là cũng là sự tranh đua, giành dựt khách hàng dựa trên tắt cả những khả năng. mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cắp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình so với các NH khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hằng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường. Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng cũng có những đặc thù nhất định: ~ Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến tắt cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Do đó: NH cần có hệ thống sản phẩm.
đa dạng, mạng lưới chỉ nhánh rộng và liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bắt kỳ vị trí địa lý nào. ~ Thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ có liên quan đến tiền tệ. Đây là một lĩnh vực nhạy cảm nên: Năng lực của đội ngũ nhân viên ngân hàng là yếu tố quan trọng nhất thể hiện chất lượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ của ngân hàng phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện, bảo mật và đặc biệt quan trọng là có tính an toàn cao đỏi hỏi ngân hàng phải có cơ sở hạ tầng vững.
chắc, hệ thống công nghệ hiện đại. ~ Thứ ba, để thực hiện kinh doanh tiền tệ, NH phải đóng vai trò tô chức trung. gian huy động vốn trong xã hội. Nguồn vốn để kinh doanh của ngân hàng chủ yếu từ vốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự có của ngân hàng.
Do đó yêu cầu ngân hàng phải có trình độ quản lý chuyên nghiệp, năng lực tài chính vững mạnh cũng như có khả năng kiểm soát và phòng ngừa rủi ro hữu hiệu để đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả. ~ Cuối cùng, chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là một công. cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Do đó, chất liệu này được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ, Hoạt động kinh doanh của NH ngoài tuân thủ các quy định.
chung của pháp luật còn chịu sự chỉ phối bởi hệ thống luật pháp riêng cho NH và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại ctia NH Để đánh giá một NH có năng lực cạnh tranh mạnh tốt hay không tốt đa phần. dựa trên các yếu tố như: tài chính, nhân sự, sản phẩm, thương hiệu. Những yếu tố này phản ảnh khả năng cạnh tranh bên trong của ngân hàng với điều kiện nền kinh tế đang phát triển bình thường, không chịu tác động của bắt kỳ yếu tố nào từ bên ngoài như: khủng hoảng, suy thoái, tác động từ các chính sách pháp luật của nhà nước,.
Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các NH: -12- Chất lượng nhân sự: ~ Chất lượng nhân viên. ~ Thủ tục giao dịch. ộ an toàn chính xác, Sản phẩm dịch vụ: ~ Tiện ích tối ưu - Dịch vu da dang ~ Kênh phân phối rộng ~ Chỉ phí/thu nhập. ~ Quan hệ khách hàng Liên tục đổi mới: ~ Dịch vụ mới ~ Địa điểm cung ứng, mới ~ Công nghệ tiên tiến Hình 2.
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh nội tại của NHTM. Tiềm lực tải chính Tiềm lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau: ~ Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Chỉ tiêu này được thể hiện thông qua các chỉ tiêu cụ thể như: quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn (CAR ~ Capital Adequacy Ratio). Tiém lye vén chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó.
~ Chất lượng tài sản có: Đây là chỉ tiêu phản ánh "sức khoẻ” của ngân hàng, nó được thể hiện thông qua chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tải sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hoá của danh. mục tín dụng, rủi ro tin dung tiém at -13- ~ Mức sinh lời: Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của NH, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng. Nó có thể được phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu lợi nhuận; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); tỷ.