Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 KHÁI NIỆM CẠNH TRANH: Cạnh tranh là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa để đạt được lợi nhuận cao nhất.
Theo nhà kinh tế học Michael E.Porter thì cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi. Như vậy có nhiều khái niệm về cạnh tranh được đưa ra nhưng chưa có khái niệm thống nhất về cạnh tranh.
Từ những quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm về cạnh tranh trong kinh tế như sau: Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhằm giành được ưu thế trên thị trường và đạt được mục tiêu kinh tế cuối cùng là lợi nhuận trong sự phát triển bền vững.2 VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH: Cạnh tranh có vai trò quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế nói chung và bản thân doanh nghiệp nói riêng. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ và kém phát triển.
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng mang lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội, nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh. Vì vậy, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.3 PHÂN LOẠI CẠNH TRANH: 1.1 Phân loại theo phạm vi: - Cạnh tranh cùng ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất, kinh doanh một loại hàng hóa, dịch vụ. Đây là cuộc cạnh tranh tất yếu xảy ra nhằm vào mục tiêu cao nhất là lợi nhuận. - Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mục tiêu lợi nhuận, vị thế an toàn.
Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu thế di chuyển vốn đầu tư sang các ngành kinh doanh thu được lợi nhuận cao, tất yếu dẫn đến hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.2 Phân loại theo tính chất: - Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh theo qui định của pháp luật, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh. Cạnh tranh có tính chất thi đua, thông qua cạnh tranh mỗi chủ thể tự nâng cao năng lực của chính mình mà không dùng thủ đoạn triệt hạ đối thủ. - Cạnh tranh không lành mạnh: là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tế trái với đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. - Cạnh tranh tự do hay cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh theo qui luật của thị trường mà không có sự can thiệp của các chủ thể khác.
Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên thị trường. Không có gì cản trở việc gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 nhập hay rút lui khỏi thị trường của người mua hay người bán, mà để chiến thắng trong cạnh tranh phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác. - Cạnh tranh không hoàn hảo: là cạnh tranh giữa số ít người bán thậm chí chỉ có duy nhất một người bán một mặt hàng nào đó do đó, người bán có thể quyết định giá cả thị trường bằng cách điều chỉnh lượng sản phẩm cung ứng. Các hình thức cạnh tranh không hòan hảo: Độc quyền nhóm, độc quyền tuyệt đối, cạnh tranh có tính độc quyền.4 NĂNG LỰC CẠNH TRANH: 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.Porter thì những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là những doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hóa và dịch vụ hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận hoặc thị phần.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình thì chưa đủ bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi có vai trò không nhỏ.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thành hai nhóm: nhóm các yếu tố bên trong doanh nghiệp và nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp: Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm: năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp, trình độ công nghệ, năng lực tài chính, trình độ tay nghề của người lao động, năng lực marketing,.
Trình độ, năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp: Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn, phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đồng thời tác động mạnh đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trình độ thiết bị, công nghệ: Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp. Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp. Trình độ lao động trong doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.
Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát minh và sáng chế,. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng đảm bảo cả chất lượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 và số lượng lao động, nâng cao tay nghề người lao động dưới nhiều hình thức, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình sản xuất, quản lý, sáng chế và cải tiến kỹ thuật,. Năng lực tài chính của doanh nghiệp: Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yếu tố rất quan trọng để doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Để năng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triển nguồn vốn, tăng vốn tự có, vốn vay dưới nhiều hình thức. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, ngân hàng và những người cho vay vốn. Năng lực marketing của doanh nghiệp và khả năng xác định lƣợng cầu: Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường. Đây là nhân tố rất quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cần điều tra để nắm rõ cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người tiêu dùng chấp nhận. Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, người tiêu dùng ngày càng hướng tới sử dụng những hàng hóa có thương hiệu uy tín. Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với những doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường.