CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh, nguồn lực, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Theo Michael E. Porter (1990), cạnh tranh là giành lấy thị phần, là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hoá lợi nhuận trong ngành và theo đó giá cả có thể giảm đi. Hiện nay cạnh tranh là hợp tác đan xen nhau, nhưng xu thế chính là hợp tác.
Cạnh tranh không chỉ là động lực, mà còn là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tự khẳng định vị trí của mình, tự hoàn thiện và phát triển nhằm mục tiêu giành ưu thế cao hơn so với các đối thủ. Như vậy, cạnh tranh là động lực thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ và phát triển kinh tế thị trường. Nhờ có cạnh tranh, xã hội được sử dụng đa dạng các sản phẩm dịch vụ hơn, chất lượng hơn và tạo ra nhiều của cải hơn. Nhìn chung, ta có thể khái quát rằng: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể có cùng mục đích phải đạt được, xảy ra trong một môi trường cụ thể, có những ràng buộc chung; diễn ra trong khoảng thời gian và không gian xác định” 1.2 Khái niệm về nguồn lực Nguồn lực là một trong các yếu tố được đề cập hàng đầu khi phân tích tình hình thực tế và xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp.
Xác định được các nguồn lực mang một ý nghĩa thực tiễn đồng thời là nền tảng để xây dựng những mục tiêu và chiến lược khả thi, hứa hẹn nhất. Theo Lê Thế Giới (2011), nguồn lực theo nghĩa rộng, bao gồm một loạt các yếu tố tổ chức, kỹ thuật, nhân sự vật chất, tài chính của công ty. Như vậy, nguồn lực là những gì mà một công ty cần phải có để hoạt động. Nguồn lực là những yếu tố giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và cung cấp giá trị cho khách hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Theo Lê Thế Giới (2011), các nguồn lực có thể chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. Nguồn lực hữu hình là các nguồn lực có thể thấy và định lượng được, đó là: nguồn lực tài chính, công nghệ, điều kiện vật chất… Nguồn lực vô hình bao gồm nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng. Theo Lê Thế Giới (2011), “so với các nguồn lực hữu hình, các nguồn lực vô hình có tác dụng tích cực và hữu hiệu hơn”. Bởi vì các nguồn vô hình là các nguồn khó xác định vì thế các đối thủ cạnh tranh khó có thể tìm hiểu, bắt chước hay thay thế do vậy các công ty thường sử dụng nguồn lực vô hình như nền tảng hình thành năng lực cốt lõi hơn là sử dụng các nguồn lực hữu hình.
Từ đó, tăng cường lợi thế cạnh tranh của công ty mình so với đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, nguồn lực tự bản thân nó không tạo ra lợi thế cạnh tranh. Để tạo ra lợi thế cạnh tranh, theo Lê Thế Giới (2011) “nguồn lực phải độc đáo và đáng giá”. Nguồn lực độc đáo là nguồn lực mà không có công ty nào khác có thể có được.
Nguồn lực đáng giá là nguồn lực giúp công ty tạo được năng lực khác biệt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra nhu cầu mạnh mẽ về sản phẩm của công ty. Do đó, cần phải lựa chọn những đặc điểm giúp xây dựng doanh nghiệp hiệu quả nhất. Yếu tố nào tiện ích hơn, thuận lợi hơn cho quá trình phát triển chiến lược của doanh nghiệp được xem là nguồn lực đắt giá. Ví dụ, nếu doanh nghiệp có nguồn cung cấp sản phẩm rẻ hơn so với bất cứ ai khác trong ngành, thì có thể liệt kê nó như là một nguồn lực độc đáo và đáng giá.
Cần hiểu rõ là nguồn lực đó không cần phải là tốt nhất trong ngành, mà có thể đánh giá là một thế mạnh của doanh nghiệp dựa trên tương quan giữa hiệu suất bên trong và bên ngoài. Như vậy, có thể khái quát: “Nguồn lực là những yếu tố giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và cung cấp giá trị cho khách hàng; và chỉ những nguồn lực độc đáo và đáng giá mới có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: • Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế (Goode, 2003). • Năng lực cạnh tranh ít nhiều chỉ phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới cận dưới ở đây rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì hiện tại hoặc sau này sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản (Krugman, 1994). • Năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng suất (Michael E.
Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, người ta xem xét theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới (Nguyễn Văn Thanh, 2003). Hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm tốt hơn sản phẩm của đối thủ xét về mặt giá cả cũng như các chất lượng phi giá cả khác (WEF, 2002). Nói chung, ta có thể khái quát: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.4 Lợi thế cạnh tranh Theo Porter (2008), lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng.
Lợi thế có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích người mua là tương đương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Lợi thế cạnh tranh là năng lực phân biệt của công ty so với đối thủ cạnh tranh mà năng lực này được khách hàng đánh giá cao và tạo ra nhiều giá trị cho khách hàng.
Theo Michael Porter (2008) có 2 dạng của lợi thế cạnh tranh: • Lợi thế về chi phí • Lợi thế về sự khác biệt. Ta có thể khái quát:“Lợi thế cạnh tranh xuất hiện khi doanh nghiệp có thể cung cấp sản phẩm tương tự với đối thủ nhưng với mức chi phí thấp hơn (lợi thế về chi phí), hoặc cung cấp những sản phẩm đem lại lợi ích vượt trội so với sản phẩm của đối thủ (lợi thế về sự khác biệt).” Quan điểm dựa vào nguồn lực chỉ ra rằng các doanh nghiệp tận dụng nguồn lực và năng lực của mình để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Nguồn lực là những tài sản đặc biệt của công ty có tác dụng tạo ra lợi thế về chi phí và sự khác biệt như bằng sáng chế và thương hiệu, bí quyết kỹ thuật, uy tín doanh nghiệp và các nhãn hiệu. Năng lực là khả năng sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, ví dụ như khả năng tung sản phẩm ra thị trường nhanh hơn đối thủ.
Nguồn lực và năng lực hợp thành khả năng đặc biệt, là khả năng cải tiến, tạo ra chất lượng, nâng cao hiệu quả, nắm bắt nhu cầu khách hàng. Tất cả các yếu tố này góp phần tạo thành lợi thế cạnh tranh.2 Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong dịch vụ TTQT tại NHTM 1.1 Nhân tố khách quan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Môi trường kinh tế - tự nhiên - xã hội Hoạt động của NHTM có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, sự ổn định hay mất ổn định của kinh tế - xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng. Các biến số vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng của nền kinh tế hay tình hình xã hội như chiến tranh, nổi loạn, đảo chính… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế. Một nền kinh tế phát triển ổn định và tạo được uy tín, niềm tin với các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ giúp cho hoạt động giao thương thương mại phát triển nhanh chóng, hoạt động TTQT của các NHTM từ đó được đẩy mạnh, nâng cao về chất lượng và quy mô.
Các cuộc khủng hoảng kinh tế làm cán cân thanh toán của quốc gia bị mất cân bằng dẫn đến đồng nội tệ bị mất giá mạnh so với đồng ngoại tệ, làm giảm khả năng chi trả của người mua. Hoạt động TTQT cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của môi trường tự nhiên, xã hội. Trong trường hợp xảy ra các biến động lớn như chiến tranh, nổi loạn, thiên tai thì thiệt hại rất dễ xảy ra cho người xuất khẩu, người nhập khẩu và cả ngân hàng. Không có một thương gia nào lại muốn lựa chọn đối tác của mình ở một nước có những biến động về chính trị, họ có thể không nhận được hàng (trong trường hợp là nhà nhập khẩu) hoặc không nhận được tiền (trong trường hợp là nhà xuất khẩu), đây là những rủi ro bất khả kháng và thông thường không có những bảo hiểm cho rủi ro dạng này.2 Chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng việc hoạch định các chính sách vĩ mô, nó tác động lên toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động TTQT nói riêng.