CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Theo Nguyễn Văn Thụy (2015), “Ảnh hưởng của nhân tố năng lực cạnh tranh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh. Luận án nghiên cứu về ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh đến kết quả kinh doanh của các Ngân hàng TMCP trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thì có 5 nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh của các ngân hàng là khả năng tài chính, khả năng marketing, khả năng đổi mới và phát triển sản phẩm – dịch vụ, khả năng tổ chức phục vụ, khả năng quản trị rủi ro.
Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ đề cập tổng quát về các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh dựa trên mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh, chứ chưa đi cụ thể vào một ngân hàng. Theo Nguyễn Chí Công (2019) nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã đưa các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM như sau: (i) Các TCTD cần xác định mục tiêu và phải đảm bảo chất lượng tăng trưởng, với các biện pháp cụ thể, hữu hiệu thực hiện đề tái tái cơ cấu gắn liền với xử lý nợ xấu; đồng thời tiếp tục đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ; (ii) Các TCTD trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cần tập trung các giải pháp để xử lý nợ xấu. Đồng thời, thực hiện tốt các giải pháp về mở rộng và tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; khai thác và sử dụng vốn hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn và sử dụng nguồn; cơ cấu kỳ hạn giữa ngắn hạn và trung dài hạn; Hạn chế tăng trưởng vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; Kiểm soát tốt chất lượng tín dụng; (iii) tăng cường an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng trong thời kỳ mới; Ứng dụng và phát triển công nghệ gắn liền với nâng cao chất lượng các nguồn lực; (iv) thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội của TP.
Hồ Chí Minh thông qua việc tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban nhân dân Thành phố; Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp theo Nghị quyết số 35/NQ- CP và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Nguyễn Tú (2015), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương Mại cổ phần Quốc Tế trên thị trường Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế. Luận án đã nghiên 5 cứu hoạt động của hệ thống NHTM Việt nam trên một số các chỉ tiêu chính và tổng hợp thành 4 nhóm tiêu chí để đo lường năng lực cạnh tranh, bao gồm : Sức mạnh nội tại ; sản phẩm dịch vụ ; khách hàng, thị phần và thương hiệu ; lợi nhuận, từ đó đưa ra được những đóng góp mới làm cơ sở cho các NHTM tham khảo để tăng năng lực cạnh tranh. Theo Lê Hình Hạc (2005), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Tp.
Hồ Chí Minh. Luận án đã hệ thống hóa được một số vấn đề mang tính lý luận về cạnh tranh, hội nhập và một số vấn đề cơ bản của hoạt động Ngân hàng liên quan đến cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế. Luận án đánh giá thực lực của các NHTM thông qua các đánh giá, phân tích điểm mạnh, điểm yếu của từng ngân hàng. Bên cạnh đó, luận án đã đưa ra ba nhóm tiêu chí cơ bản đề đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM: các tiêu chí về phương thức cạnh tranh (tính đa dạng của danh mục dịch vụ tài chính, chất lượng dịch vụ, giá cả dịch vụ, khả năng tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ cho khách hàng); Các tiêu chí đánh giá thông qua các yếu tố tiềm năng (chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, tiềm lực tài chính, chiến lược kinh doanh, khả năng sinh lời, độ an toàn, uy tín trên thị trường, thị phần); các tiêu chí về môi trường cạnh tranh (kinh tế vĩ mô, chính trị, văn hóa – xã hội, công nghệ, hệ thống pháp luật và cơ chế hoạt động).
Nghiên cứu của Aboagye-Debrah (2007) về “Tình hình cạnh tranh, tăng trưởng và hiệu quả của ngành ngân hàng tại Ghana” đã phân tích các yếu tố cạnh tranh về thị phần cho vay, huy động vốn và mức độ tập trung thị trường của các ngân hàng thông qua mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter. Tác giả đã đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng tại Ghana dựa trên các tiêu chí CAMEL. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ gia tăng quy mô tài sản có tác động tới kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá năng lực cạnh tranh và kết quả kinh doanh của các NHTM tại Ghana dựa trên các chỉ tiêu tài chính mà chưa đánh giá trên các nguồn lực khác của ngân hàng.
Cơ sở lý luận chung về cạnh tranh 1. Quy định chung về cạnh tranh 6 Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết hệ thống thị trường, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Cạnh tranh thúc đẩy các nhà kinh doanh phải luôn đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật trong sản xuất để tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng và vì vậy mang lại sự tăng trưởng và cải thiện hiệu quả kinh tế.
Cạnh tranh phải được diễn ra trong môi trường pháp lí tự do và bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, nếu không có môi trường pháp lí đó, cạnh tranh có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội. Cạnh tranh có thể biểu hiện bằng các hình thức với những tính chất khác nhau như cạnh tranh tự do, cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về vấn đề cạnh tranh, Luật Cạnh tranh 2018 đã được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 thay thế cho Luật Cạnh tranh 2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2019. Luật Cạnh tranh 2018 được xây dựng trên cơ sở có sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế và tư duy pháp lý trong đó nhấn mạnh mục tiêu tăng cường hiệu quả thực thi, có những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng như: (i) Mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; (ii) Sửa đổi và bổ sung hành vi cấm đối với cơ quan nhà nước; (iii) Hoàn thiện quy định kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và bổ sung quy định về chính sách khoan hồng nhằm tăng cường hiệu quả thực thi; (iv) Bổ sung tiêu chí xác định sức mạnh thị trường đáng kể làm cơ sở xác định doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền; (v) Thay đổi căn bản cách tiếp cận để hoàn thiện các quy định kiểm soát tập trung kinh tế; (vi) Hoàn thiện quy định kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh; (vii) Tổ chức lại cơ quan cạnh tranh để tăng cường hiệu quả thực thi; và (viii) Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh.
Khái niệm cạnh tranh Bất kỳ một chủ thể kinh tế nào khi tham gia vào thị trường lớn hay nhỏ đều phải chấp nhận tham gia vào cuộc cạnh tranh. Theo Michael Porter “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”.Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Ngoài ra có một số khái niệm khác về cạnh tranh, qua các khái niệm về cạnh tranh có thể hiểu cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường. Trong khoa học pháp lí, các nhà nghiên cứu cũng rất khó có thể đưa ra khái niệm chuẩn chung cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách là mục tiêu điều chỉnh của pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh doanh tự do cạnh tranh, tự do sáng tạo ra các phương thức để ganh đua giành phần thắng về phía mình, do đó khái niệm cạnh tranh được pháp luật của rất ít nước định nghĩa. Trong cuốn “Tài liệu tham khảo luật về cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thố trên thế giới” do Bộ Thương mại ấn hành năm 2001 phục vụ cho việc xây dựng Luật cạnh tranh của Việt Nam có giới thiệu luật về cạnh tranh của 9 nước và vùng lãnh thổ trong đó chỉ có Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan đưa ra khái niệm cạnh tranh. Điều 3 Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Cạnh tranh có nghĩa là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ để quyết 8 định các vấn đề kinh tế một cách độc lập. Điều 4 Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan quy định: “Cạnh tranh” là từ chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc những điều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh.