Chương 1: DNNVV với việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thương mại của các DNNVV trên địa bàn Hà Nội. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thương mại của DNNVV trên địa bàn Hà Nội. 3 CHƢƠNG 1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VỚI VIỆC TIẾP CẬN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty tài chính quốc tế (IFC), các doanh nghiệp được phân chia theo quy mô. Theo đó, DNNVV là doanh nghiệp phải đáp ứng được tối thiểu 2 phần 3 các đặc điểm sau: Bảng 1.1 Các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới về DNNVV Quy mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 người <100.000 USD Nhỏ <50 người <3 triệu USD <3 triệu USD Vừa <300 người <15 triệu USD <15 triệu USD Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ <10.000 USD Vừa <1 triệu USD (<2 triệu USD đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn: Ayyagaru, Beck, và Demirguc – Kunt (2005) Nhiều ngân hàng trên thế giới đang phục vụ thị trường DNNVV trên thực tế sử dụng doanh thu hàng năm, và các ngưỡng giới hạn tối đa trung bình theo báo cáo ngân hàng. Theo cách như vậy, DNNVV được định nghĩa như sau: Bảng 1.2 Các mức doanh thu trung bình đối với DNNVV Quy mô công ty Doanh thu tối thiểu Doanh thu tối đa Nhỏ 200.000 USD 4 triệu USD Vừa 2 triệu USD 16 triệu USD Nguồn: Beck, Demirguc – Kunt và Martinez Peria (2008) Mỗi quốc gia, tùy theo điều kiện và trình độ phát triển quy định mức độ đánh giá từng tiêu chí theo các quy mô doanh nghiệp khác nhau.
Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở 4 các quốc gia trên thế giới. Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp.3 Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực Quốc gia/ Phân loại Số lao động Vốn đầu tƣ Doanh thu Khu vực DNNVV bình quân A. NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1.
United State Nhỏ và vừa 0-500 người Không quy định Không quy định of America - Đối với ngành 1-300 người ¥ 0-300 triệu sản xuất - Đối với ngành 2. Japan 1-100 người ¥ 0-100 triệu Không quy định thương mại - Đối với ngành 1-100 người ¥ 0-50 triệu dịch vụ Siêu nhỏ < 10 người Không quy định 3. EU Nhỏ < 50 người Không quy định < €7 triệu Vừa < 250 người < €27 triệu 4. Australia Nhỏ và vừa < 200 người Không quy định Không quy định < CDN$ 5 triệu Nhỏ < 100 người 5.
Canada Không quy định CDN$ 5 -20 Vừa < 500 người triệu 6. New Zealand Nhỏ và vừa < 50 người Không quy định Không quy định 7. Korea Nhỏ và vừa < 300 người Không quy định Không quy định 8. Taiwan Nhỏ và vừa < 200 người < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu 5 B.
NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1. Không quy Không quy định Thailand Nhỏ và vừa < Baht 200 triệu định 2. - Đối với ngành RM 0-25 triệu Malaysia 0-150 người Không quy định sản xuất 3. Philippine Nhỏ và vừa < 200 người Peso 1,5-60 triệu Không quy định 4.
Không quy < US$ 5 triệu Indonesia Nhỏ và vừa < US$ 1 triệu định 5.Brunei Nhỏ và vừa 1-100 người Không quy định Không quy định C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI 1-249 người 1. Nhỏ Không quy định Russia 250-999 Không quy định Vừa người 50-100 người 2. Nhỏ Không quy định China 101-500 Không quy định Vừa người 3.
Nhỏ < 50 người Không quy định Poland Không quy định Vừa 51-200 người Siêu nhỏ 1-10 người 4. Không quy định Hungary Nhỏ 11-50 người Không quy định Vừa 51-250 người Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.3 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ.
Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt 6 thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Số liệu ở bảng 1.3 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi.
Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu. Ở Việt Nam, từ năm 1998 đến nay, Chính phủ đã đưa ra 3 khái niệm DNNVV: Quy định của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 xác định DNNVV phụ thuộc vào vốn điều lệ và số lao động trong doanh nghiệp, theo đó DNNVV là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng. Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 đưa ra khái niệm “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.” Việc sử dụng một trong hai tiêu chí (vốn đăng ký và bình quân lao động) khiến cho việc xác định một doanh nghiệp có phải là DNNVV hay không đôi khi gặp khó khăn, đôi khi bỏ sót đối tượng của các chương trình trợ giúp, đôi khi có doanh nghiệp không thuộc diện đối tượng trợ giúp của chương trình lại vẫn được tham gia.
Hơn nữa, tiêu chí về số lao động bình quân trong năm là một tiêu chí có tính “động” rất lớn do hiện tượng lao động theo mùa vụ ở Việt Nam rất phổ biến và số lao động này thay đổi công việc thường xuyên nên càng gây khó khăn hơn trong việc xác định một doanh nghiệp có phải là DNNVV hay không. Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 định nghĩa DNNVV là cơ sở kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 7 Bảng 1.4 DNNVV theo quy mô và khu vực ngành nghề DN siêu Quy mô nhỏ DN nhỏ DN vừa Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động ng.vốn động ng. Nông, lâm ≤ 10 người ≤ 10 tỷ 10 đến 200 20 đến 100 200 đến nghiệp và thuỷ đồng người tỷ đồng 300 sản người II. Công ≤ 10 người ≤ 10 tỷ 10 đến 200 20 đến 100 200 đến nghiệp và xây đồng người tỷ đồng 300 dựng người III.
Thương ≤ 10 người ≤ 10 tỷ 10 đến 50 20 đến 50 50 đến 100 mại và dịch vụ đồng người tỷ đồng người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Theo cách phân loại này, DNNVV ở nước ta chiếm hơn 90% trong tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Việc xác định DNNVV như trên là phù hợp với thực tế khách quan của nước ta với nguồn vốn có hạn, lao động dồi dào, đáp ứng được yêu cầu cấp bách của xã hội là đảm bảo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của đại đa số nhân dân lao động và dần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo. Việc đưa ra định nghĩa DNNVV có ý nghĩa lớn để xác định đúng đối tượng, từ đó giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách phù hợp với DNNVV là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường với mục đích khác nhau.
Đặc điểm của DNNVV DNNVV là doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và hầu hết hoạt động trong các ngành thương mại, dịch vụ sử dụng nhiều lao động. Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển. Có thể nhận thấy DNNVV có một số đặc điểm sau: 8 Về những điểm mạnh - DNNVV có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh. So với doanh nghiệp lớn, DNNVV năng động, linh hoạt hơn trước những thay đổi liên tục của thị trường.
DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển đổi mặt hàng sản xuất nhanh hơn. - Vốn đầu tư ban đầu của DNNVV thấp, phần lớn được huy động từ gia đình, bạn bè, khả năng thu hồi vốn nhanh, tạo điều kiện tăng tốc độ vòng quay vốn. Ngoài ra, vốn tồn tại chủ yếu dưới dạng sản phẩm, hàng hoá, nguyên vật liệu, một phần là tiền và một phần rất nhỏ là tài sản cố định. Nguồn vốn nhỏ có thể giúp doanh nghiệp dễ chuyển đổi, cũng như ít bị ảnh hưởng lớn khi thị trường có biến động.
- DNNVV có nguồn nhân lực trẻ, năng động, chịu khó làm việc, học hỏi, có tinh thần doanh nghiệp cao. - Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở DNNVV gọn nhẹ linh hoạt, công tác quản lý, điều hành mang tính trực tiếp. Các quyết định được thực hiện nhanh, công tác giám sát được tiến hành chặt chẽ. Chính vì vậy tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp, tận dụng được các cơ hội kinh doanh.