CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động Ngân hàng Thương mại (NHTM) Khi nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ đã được mở rộng thì trong nền kinh tế cũng đồng thời xuất hiện những người nắm giữ một khoản tiền tạm thời không dùng đến và những người cần tiền trong một khoảng thời gian nhất định để kinh doanh. Trước tình hình đó, vào nửa cuối thế kỷ 16 ở Châu Âu đã ra đời một số Ngân hàng đầu tiên mà tiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi chuyển hoá thành.
Lúc này hoạt động của Ngân hàng mới chỉ là nhận giữ hộ tiền và cho vay. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM cũng từng bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hướng đa năng. Ở Việt Nam, theo Luật các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, nhà lập pháp định nghĩa rằng “Hoạt động Ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng thông qua một số đặc điểm sau: * Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng).
Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam 5 kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng. * Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phương án kinh doanh,.) thì mới được phép hoạt động trên thị trường. * Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc, mang tính chất dây truyền đối với nền kinh tế.
Sở dĩ nói như vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế gới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những bộ luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. Các hoạt động cơ bản của NHTM Hoạt động và vai trò của NHTM không phải là bất biến, mà liên tục phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội. Ngày nay, hoạt động của NHTM rất phong phú và đa dạng, tuỳ điều kiện kinh tế và mức độ phát triển kỹ thuật của mỗi quốc gia mà các nghiệp vụ kinh doanh của các NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ.
Hoạt động của NHTM phản ánh qua ba lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là: huy động vốn, sử dụng vốn và nghiệp vụ môi giới trung gian. Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ hoạt động tạo vốn quan trọng hàng đầu của các NHTM. Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các NHTM đã thu hút, tập trung các nguồn tiền tệ nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng của các doanh 6 nghiệp, các tầng lớp dân cư vào Ngân hàng. Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy động được, Ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, các mục tiêu phát triển kinh tế vùng, ngành, thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với hoạt động huy động vốn, các NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa. Nếu không có Ngân hàng, việc huy động của cải của xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng sẽ chậm đi rất nhiều. Nhờ hoạt động huy động vốn của Ngân hàng, tiền tiết kiệm của cá nhân, đoàn thể, các Tổ chức kinh tế được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế. Nó chuyển của cải, tài nguyên xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm tàng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng cao mức sống xã hội.
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín và vị thế của Ngân hàng sẽ càng được khẳng định, Ngân hàng sẽ chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tổ chức, dân cư. Điều quan trọng là Ngân hàng cần căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của từng vùng, từng ngành trong cả nước… để từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Hoạt động sử dụng vốn Đây là hoạt động trực tiếp đưa lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ và quyền sử dụng tiền tệ, vì thế lợi tức của Ngân hàng có được chủ yếu từ việc đầu tư và cho vay.
Nếu một Ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế hoạch sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả thì không những không đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng, ngược lại còn không có nguồn bù đắp chi phí từ việc huy động. Do vậy, có thể nói sử dụng vốn là hoạt động hết sức quan trọng của mỗi Ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hoạt động ngân quỹ, cho vay, đầu tư tài chính… Một Ngân hàng có hoạt động sử dụng vốn hiệu quả cao sẽ nâng cao vai trò, 7 uy tín của Ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch với mình, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hoạt động huy động vốn. Vì vậy, nhiệm vụ của mỗi Ngân hàng là phải thường xuyên bám sát mục tiêu phát triển kinh tế vùng, ngành, đất nước… để có các hình thức đầu tư đúng đắn, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Các hoạt động trung gian Hoạt động trung gian là hoạt động mà Ngân hàng cung ứng dịch vụ phục vụ khách hàng và hưởng thu nhập từ phí hoặc hoa hồng. Nền kinh tế càng phát triển, dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của khách hàng. Hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển của Ngân hàng. Ở các nước phát triển, hoạt động trung gian và tiện ích dịch vụ của Ngân hàng đối với khách hàng càng đa dạng.
Thu nhập từ các hoạt động trung gian thường chiếm từ 30 đến 35% tổng thu nhập của Ngân hàng. Ở Việt Nam, các hoạt động trung gian của Ngân hàng còn nghèo nàn, đơn giản, chưa thật sự tạo ra tiện ích cho khách hàng. Ngân hàng thường thực hiện một số hoạt động trung gian như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, phát hành séc, bảo lãnh cho khách hàng, thu chi hộ, quản lý tài sản hộ, các hình thức thanh toán thẻ… Hiện nay, xu hướng nguồn thu về dịch vụ ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Đồng thời, với các hoạt động trung gian, NHTM góp phần làm tăng khả năng chu chuyển của đồng vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội.
Mặt khác, thực hiện tốt hoạt động dịch vụ, Ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, tạo điều kiện cho việc phát triển hoạt động huy động vốn và cho vay của Ngân hàng. Vậy, hoạt động của NHTM có mối quan hệ hữu cơ với nhau, là tiền đề, điều kiện tương hỗ lẫn nhau. Việc thực hiện tốt, đồng bộ tất cả các hoạt động Ngân hàng sẽ tạo tính năng động, toàn diện cho hoạt động của Ngân hàng và Ngân hàng sẽ thực sự trở thành những NHTM kinh doanh đa năng vững mạnh. Nguồn vốn của Ngân hàng Thương mại Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển của NHTM.
Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh lời trong kinh doanh. Do đó, việc tạo lập một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Ngân hàng là điều rất cần thiết. Nguồn vốn của một NHTM được hình thành từ các nguồn sau: 1. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để Ngân hàng được luật pháp cho phép hoạt động và đây là loại vốn Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa.
Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ. - Vốn ban đầu Vốn ban đầu hình thành khi Ngân hàng bắt đầu hoạt động với tính chất sở hữu và nguồn hình thành khác nhau. Nếu là Ngân hàng tư nhân thì đó là vốn do cá nhân tự bỏ ra; nếu là Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước thì do ngân sách Nhà nước cấp; nếu là Ngân hàng cổ phần thì do cổ đông thông qua mua các cổ phần (hoặc cổ phiếu); nếu là Ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp vốn.