mở đầu cũng là khâu kết thúc của một chu kỳ sản xuất, nhờ vậy chu kỳ sản xuất sẽ được rút ngắn, tăng tốc độ chu chuyển vốn, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất của doanh nghiệp, từ đó góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế. Hai là, thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước sẽ tiết kiệm chi phí, giảm phiền hà trong việc chi trả cho khách hàng, giảm thời gian giao dịch, ngăn ngừa việc xử lý trùng lặp giúp ngân hàng và doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Ba là, thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước cung cấp cho khách hàng nhiều sự lựa chọn, mang lại nhiều cơ hội kinh doanh với mức chi phí thấp nhất. Khách hàng sẽ nhận được nhiều lợi ích từ thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước do tiết kiệm được thời gian và thực hiện các nghiệp vụ một cách thuận tiện.
Bốn là, đối với các giao dịch có phạm vi rộng như giữa các vùng kinh tế hay giữa các quốc gia trên thế giới thì thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước là lựa chọn số một vì nó cung cấp cho khách hàng những công cụ cực kỳ thuận lợi, chính xác và nhanh chóng. Các kênh thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước Các kênh thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước bao gồm: - Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống Là phương thức thanh toán giữa các ngân hàng trong cùng hệ thống ngân hàng, xảy ra trên cơ sở thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thanh toán mở tài khoản ở các ngân hàng khác nhau trong cùng một hệ thống hoặc thanh toán công nợ, chuyển vốn và điều hòa vốn trong nội bộ từng hệ thống ngân hàng. - Thanh toán bù trừ khác hệ thống (bằng giấy và điện tử) Thanh toán bù trừ (TTBT) giữa các ngân hàng là phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng được thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu, phải trả và trên cơ sở đó chỉ thanh toán với nhau số chênh lệch (kết quả bù trừ). Tùy thuộc vào phương pháp trao đổi chứng từ, chuyển số liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT giấy) và TTBT điện tử.
13 - Thanh toán qua TKTG tại NHNN Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN được áp dụng trong thanh toán qua lại giữa hai ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống đều có tài khoản tiền gửi tại NHNN (cùng hoặc khác chi nhánh, Sở giao dịch NHNN). - Ủy nhiệm thu hộ, chi hộ Ủy nhiệm thu hộ, chi hộ là một phương thức thanh toán giữa hai ngân hàng theo sự thỏa thuận và cam kết với nhau ngân hàng này sẽ thực hiện thu hộ hoặc chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán của các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng kia. - Mở tài khoản lẫn nhau để thanh toán Mở tài khoản lẫn nhau để thanh toán là một phương thức thanh toán giữa hai ngân hàng, trong đó một ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thại ngân hàng khác để tiến hành thanh toán. - Thanh toán điện tử liên ngân hàng Thanh toán điện tử liên ngân hàng là quá trình xử lý các giao dịch thanh toán liên ngân hàng kể từ khi khởi tạo lệnh thanh toán cho tới khi hoàn tất việc thanh toán cho người thụ hưởng, được thực hiện qua mạng máy tính.
Đây là hệ thống thanh toán tổng thể, bao gồm hệ thống bù trừ liên ngân hàng, hệ thống xử lý tài khoản tiền gửi thanh toán và cổng giao diện với hệ thống chuyển tiền điện tử của Ngân hàng Nhà nước. Nội dung hoạt động thanh toán điện tử liên ngân hàng trong nước a. Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống Hiện nay ở Việt nam áp dụng 2 phương pháp kiểm soát và đối chiếu để quá trình thanh toán liên hàng được chính xác đó là “Kiểm soát tập trung, đối chiếu phân tán” và “Kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung”. Theo 2 phương pháp này, thì ngoài 2 chi nhánh ngân hàng tham gia thanh toán còn có “Trung tâm thanh toán” làm nhiệm vụ kiểm soát, đối chiếu tất cả các lệnh chuyển tiền thanh toán trong cùng hệ thống và theo dõi nguồn vốn của các chi nhánh để thực hiện thanh toán.
+ Phương pháp “Kiểm soát tập trung, đối chiếu phân tán”: 14 Theo phương pháp này các chi nhánh trực tiếp gửi, chuyển tiền cho nhau, TTTT làm nhiệm vụ kiểm soát tất cả các lệnh chuyển tiền, sau đó lập sổ đối chiếu gửi chi nhánh nhận chuyển tiền để chi nhánh ngân hàng này đối chiếu (đối chiếu phân tán ở các ngân hàng nhận chuyển tiền). Phương pháp này áp dụng trong thanh toán liên hàng truyền thống. + Phương pháp “Kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung”: Theo phương pháp này, ngân hàng chuyển tiền gửi chuyển tiền cho ngân hàng nhận chuyển tiền thông qua TTTT truyền qua mạng. TTTT kiểm soát và đối chiếu tất cả các chuyển tiền trong toàn hệ thống.
Thanh toán bù trừ khác hệ thống (bằng giấy và điện tử) Thanh toán bù trừ giấy Mô hình tổ chức gồm: ngân hàng chủ trì là chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố. Các ngân hàng thành viên tham gia TTBT là các ngân hàng trên địa bàn tỉnh, thành phố đó (các ngân hàng này là các ngân hàng khác hệ thống). Khi thực hiện TTBT các ngân hàng tham gia TTBT phải tuân thủ các quy định mang tính nguyên tắc sau đây: - Phải có văn bản đề nghị tham gia TTBT và cam kết chấp hành đúng các quy định trong TTBT. - Có văn bản giới thiệu các nhân viên có trách nhiệm đến trực tiếp giao, nhận chứng từ và làm thủ tục thanh toán.
Nhân viên TTBT phải giới thiệu chữ ký của mình với ngân hàng chủ trì và các ngân hàng thành viên khác (theo thủ tục giới thiệu chữ ký). - Phải thực hiện đúng giờ giao và nhận chứng từ theo quy định chung của ngân hàng chủ trì. - Phải lập đúng, đầy đủ, kịp thời các giấy tờ trước và trong khi giao dịch TTBT. Số liệu phải đảm bảo chính xác, rõ rang; đồng thời phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với sự hợp pháp, hợp lệ của chứng từ và chính xác về số liệu.
- Nguyên tắc số chênh lệch trong TTBT: + Ngân hàng chủ trì được chủ động trích tài khoản tiền gửi của các ngân hàng thành viên phải trả (nếu còn) để thanh toán cho ngân hàng thành viên được thu. 15 + Trong trường hợp TKTG của ngân hàng thành viên phải trả hết số dư hoặc không đủ số dư để thanh toán thì vay ngân hàng chủ trì hoặc vay ngân hàng thành viên khác để thanh toán. Trường hợp không được vay thì ngân hàng chủ trì thanh toán hộ 1-2 lần với mức phạt cao. Sau đó vẫn tiếp diễn thì buộc phải ngừng tham gia TTBT.
Các ngân hàng thành viên đều phải mở TKTG tại ngân hàng chủ trì, thanh toán kết quả bù trừ chính là việc ngân hàng chủ trì ghi Nợ, ghi Có vào TKTG của ngân hàng thành viên – TK đối ứng với TKTG của ngân hàng thành viên là tài khoản TTBT của ngân hàng chủ trì. Các ngân hàngthành viên luôn phải duy trì số dư TKTG tại ngân hàng chủ trì để đảm bảo thanh toán. Thanh toán bù trừ điện tử Là hệ thống thanh toán ròng, xử lý các khoản thanh toán chuyển tiền liên ngân hàng giá trị thấp (dưới 500 triệu đồng). Đặc điểm: - Được thiết kế theo mô hình kết hợp thanh toán tổng tức thời và ròng.
Theo đó, thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng thực hiện theo quy trình: Lệnh thanh toán từ ngân hàng thành viên gửi lệnh sẽ phải qua ngân hàng chủ trì thanh toán bù trừ điện tử để kiểm soát, xử lý bù trừ, hạch toán kết quả trước khi lệnh thanh toán được chuyển tiếp đi ngân hàng thành viên nhận lệnh. - Các chủ thể tham gia thanh toán bù trừ điện tử (TTBTĐT) gồm có: + Ngân hàng chủ trì TTBTĐT, là đơn vị chịu trách nhiệm nhận, kiểm tra các lệnh thanh toán từ các ngân hàng thành viên gửi lệnh; xử lý bù trừ, và gửi bảng kết quả bù trừ cùng các lệnh thanh toán cho các ngân hàng thành viên liên quan; xử lý việc đối chiếu doanh số TTBTĐT với các ngân hàng thành viên; quyết toán và hạch toán kết quả TTBTĐT. + Các ngân hàng thành viên trực tiếp của hệ thống là các ngân hàng và tổ chức được làm dịch vụ thanh toán, có mở tài khoản tại ngân hàng chủ trì TTBTĐT. Ngân hàng thành viên có trách nhiệm lập và gửi lệnh thanh toán, bảng kê thanh toán; nhận lệnh thanh toán và kết quả TTBTĐT; thực hiện đúng quy trình đối chiếu, quyết toán TTBTĐT.
16 + Áp dụng chữ ký điện tử trong việc chuyển, nhận các lệnh thanh toán và các giao dịch có liên quan giữa ngân hàng chủ trì TTBTĐT với ngân hàng thành viên trực tiếp của hệ thống. + Để phòng ngừa rủi ro hệ thống, việc xử lý thanh toán và quyết toán TTBTĐT phải thực hiện theo nguyên tắc: Ngân hàng chủ trì TTBTĐT xử lý bù trừ các lệnh thanh toán và thanh toán ngay số chênh lệch phải trả theo kết quả TTBTĐT của từng ngân hàng thành viên trong phạm vi khả năng chi trả thực tế của họ tại ngân hàng chủ trì TTBTĐT. Thực hiện vấn đề này, về phương diện kỹ thuật, thông thường ngân hàng chủ trì TTBTĐT sẽ khóa số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của các ngân hàng thành viên trong thời gian xử lý bù trừ theo phiên và khi quyết toán TTBTĐT trong ngày. Trong trường hợp tài khoản tiền gửi thanh toán của một ngân hàng thành viên bất kỳ không có đủ số dư để thanh toán kết quả phải trả của mình thì Ngân hàng chủ trì TTBTĐT sẽ phải chuyển bớt một số lệnh thanh toán của ngân hàng này để xử lý vào phiên thanh toán bù trừ kế tiếp (nếu là xử lý tại phiên TTBTĐT) hoặc phải hủy bỏ các lệnh thanh toán này nếu là tại thời điểm quyết toán bù trừ điện tử trong ngày.
Thanh toán qua TKTG tại NHNN Ngân hàng phát sinh nghiệp vụ thanh toán phải lập và gửi CN.