Chương 1 GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1. Xu hướng phát triển của thông tin vô tuyến Công nghệ di động đang phát triển nhanh chóng, mạng di động 4G đã chín muồi, thế giới đang hướng tới mạng di động 5G để tạo ra nền tảng hạ tầng cho IoT với hàng tỷ kết nối. Báo cáo Di động năm 2019 của Ericsson (Ericsson Mobility Report) chỉ rõ: Thuê bao 4G LTE đã tăng trưởng 40% trong năm 2018 tại khu vực Đông Nam Á và Châu Đại Dương, tăng trưởng tương đương vào năm 2019 và dự kiến đạt tới 63% tổng thuê bao di động vào năm 2024. Những thiết bị thương mại 5G đầu tiên cũng đã được ra mắt trong khu vực.
Dự báo đến cuối năm 2024 gần 12% thuê bao di động trong khu vực sẽ là 5G. Ở những khu vực khác, tốc độ tăng trưởng của thuê bao 5G được dự báo nhanh nhất ở Bắc Mỹ với 63% thuê bao di động sẽ chuyển sang 5G vào năm 2024, Đông Bắc châu Á đứng thứ 2 (47%), và châu Âu xếp thứ 3 (40%). Tổng số thuê bao di động là khoảng 8 tỷ, 6.2/8 tỷ là loại mobile broad band với 61 triệu thuê bao đăng ký được thêm vào trong mỗi quý. Mức độ thâm nhập thuê bao một số khu vực vượt trên 100%.
Trong số thiết bị đầu cuối đưa vào, 52% là LTE.1: Mật độ thuê bao tại một số khu vực trên thế giới theo tỷ lệ dân số (Nguồn – Ericsson Mobility Report) Hình 1.2: Thống kê số lượng thiết bị theo khu vực (Nguồn – Ericsson Mobility Report) Dự báo tương lai sẽ giảm dần các thiết bị đầu cuối 2G, 3G mà chuyển dịch sang các đầu cuối hỗ trợ 4G, 5G.3: Dự báo thiết bị đầu cuối đến 2025 Nếu tách riêng điện thoại thông minh, thuê bao sử dụng mạng 4G, 5G là chủ yếu Hình 1.4: Dự báo thiết bị đầu cuối đến 2025 – Tách riêng điện thoại thông minh Dung lượng dữ liệu mỗi tháng trên mỗi máy smartphone sẽ tăng từ 3.6 GB lên tới 17 GB trong giai đoạn 2020-2025 với tỷ lệ tăng trưởng 29% tại Đông Nam Á và châu Đại Dương. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng này là do số lượng thuê bao 4G LTE đang tăng mạnh, người dùng trẻ tuổi thích 3 xem video trên di động.5: Dung lượng sử dụng hàng tháng của mỗi thuê bao Thuê bao tiêu dùng nhiều lưu lượng data, chủ yếu lưu lượng phát sinh từ video. Lưu lượng video di động đang góp phần đáng kể làm tăng trưởng dữ liệu vì người dùng ngày càng dành nhiều thời gian hơn để phát và chia sẻ trực tuyến các nội dung video. Điều này dự báo tiếp tục tăng bởi xu thế video đang được nhúng trong mọi định dạng của nội dung trực tuyến.
Theo thống kê được biểu diễn trong hình 1.7, số lượng người sử dụng di động đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây và dự đoán đến năm 2022 thiết bị di động sẽ tăng trưởng với tỉ lệ 85 % là thiết bị thông minh.6: Dự báo tăng trưởng của số lượng các thiết bị có kết nối từ năm 2015 và dự đoán đến năm 2025 (nguồn từ IHS Statista 2019) Trong bối cảnh công nghệ phát triển với xu hướng 5G với yêu cầu đạt được tốc độ dữ liệu lớn hơn, hiệu quả sử dụng phổ tốt hơn [1], bên cạnh đó là IoT với mật độ kết nối dày đặc. Các nhà cung cấp dịch vụ có thể nhìn nhận ra ngay là trong tương lai, số lượng các thiết bị kết nối là rất khủng khiếp, đồng thời, lượng dữ liệu trao đổi là cực lớn (như số liệu thống kê trên). Như thống kê sau cho thấy tốc độ tăng trưởng về số lượng thiết bị di động nói riêng.7: Tăng trưởng thiết bị di động trên toàn cầu từ 2017, dự đoán đến 2022 (nguồn: Cisco VNI Mobile, 2019) Với tốc độ phát triển như vậy, tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng cũng như công nghệ kết nối hiện tại khó có thể theo kịp với tốc độ phát triển về mặt số lượng của các thiết bị có nhu cầu kết nối. Do đó, các nhà cung cấp khó có khả năng đáp ứng được như cầu sử dụng trong thời gian tới.
Vì vậy yêu cầu cấp thiết là cần tìm ra giải pháp, công nghệ mới để vừa tận dụng cơ sở hạ tầng cũ, vừa phát triển công nghệ lõi mới để dần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về kết nối và trao đổi dữ liệu của số lượng cực lớn các thiết bị. Thống kê sau cho thấy lượng dữ liệu khổng lồ các thiết bị đó tạo ra hàng tháng.8: Tăng trưởng về lượng dữ liệu trao đổi hàng tháng giữa các thiết bị di động từ 2017, dự đoán đến 2022 (nguồn: Cisco VNI Mobile, 2019) Từ thực tế đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất ra 3 hướng giải pháp chính để tăng dung lượng dữ liệu cho hệ thống thông tin di động tế bào: Tăng mật độ sử dụng tế bào mạng(sử dụng tế bào mạng nhỏ hơn). Sử dụng thêm phổ tần. Tăng hiệu suất sử dụng phổ.
Trong 3 phương án trên, phương án thứ nhất đã được sử dụng nhiều trong các thế hệ thông tin di động trước đây nhằm tăng dung lượng tuy nhiên đánh đổi lại là tăng chi phí lắp đặt (cần nhiều trạm BTS hơn), can nhiễu gia tăng, và như đã nói ở trên, hệ thống thống tế bào đã quá dày đặc rồi. Và trong bối cảnh tài nguyên tần số đang trở nên ngày càng khan hiếm, phương án thứ hai cũng không kém phần đắt đỏ. Phương án còn lại, tăng hiệu suất sử dụng phổ đã trở thành nhân tố quyết định sự ra đời của các thế hệ thông tin di động mới trong suốt thời kỳ phát triển của hệ thống thông tin đi động tế bào. Qua các thế hệ 1G, 2G, 3G, 4G chúng ta đã chứng kiến sự xuất hiện của những công nghệ mới GSM, 7 WCDMA, OFDMA tương ứng với hiệu suất sử dụng phổ càng ngày càng tăng tương ứng với nhu cầu thực tế.
Tương tự như vậy, hệ thống 5G trong tương lai cũng cần một công nghệ mới cho hiệu suất sử dụng phổ cao hơn để theo kịp tốc độ phát triển của nhu cầu thông tin tốc độ cao. Và MIMO- NOMA [2], [3] xuất hiện như một ứng cử viên tiềm năng để giải quyết những vấn đề trên. Tính cấp thiết của luận văn Đa truy cập không trực giao (NOMA) đã trở thành một khái niệm quan trọng để thiết kế các kỹ thuật truy cập vô tuyến cho mạng không dây thế hệ thứ năm (5G) [4], [5]. Mặc dù một số kỹ thuật đa truy cập sư dụng cho 5G đã được đề xuất bởi giới hàn lâm và cũng như một số tổ chức đưa ra chuẩn công nghiệp, bao gồm cả điều khiển công suất trong NOMA [6] - [7], đa truy cập phân chia theo mã (SCMA) [8], [9], đa truy nhập phân chia theo mẫu (PDMA) [10] , [11] và đa truy cập phân chia theo vùng mạng (LPMA) [12], các kỹ thuật này dựa trên cùng một khái niệm chính, trong đó có nhiều hơn một người dùng được phục vụ trong mỗi khối tài nguyên trực giao, ví dụ: khe thời gian, kênh tần số hay mã trải rộng.
Mặc dù ứng dụng của NOMA trong các mạng di động còn khá mới, nhưng các khái niệm liên quan đã được nghiên cứu trong lý thuyết thông tin trong một thời gian dài. Ví dụ, các thành phần chính của NOMA, chẳng hạn như mã hóa khử nhiễu liên tiếp (SIC), đã được phát minh từ hơn hai thập kỷ trước [13], [14]. Tuy nhiên, nguyên tắc của NOMA, tức là, loại bỏ tính trực giao, đã không được sử dụng trong các thế hệ mạng di động trước đây. Cần lưu ý rằng triết lý đằng sau NOMA khác xa hơn so với triết lý đằng sau đa truy cập phân chia theo mã (CDMA).
Trên thực tế, CDMA chủ yếu được xây dựng dựa trên ý tưởng rằng người dùng được phân tách bằng cách khai thác sự khác biệt giữa các mã lan truyền của họ, trong khi NOMA khuyến khích 8 nhiều người dùng sử dụng chính xác cùng một mã. Do đó, đối với CDMA, tốc độ chip phải cao hơn nhiều so với tốc độ dữ liệu thông tin được hỗ trợ, ví dụ, hỗ trợ tốc độ dữ liệu 10 Gbps có thể yêu cầu tốc độ chip vài trăm Gbps, điều này tạo ra khó khăn cho hệ thống phần cứng có thể bắt kịp tốc độ phát triển đó. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước Thông thường, NOMA có thể được tích hợp trong các hệ thống không dây hiện tại và tương lai vì khả năng tương thích với các công nghệ truyền thông khác. Ví dụ, NOMA đã được chứng minh là tương thích với OMA thông thường, chẳng hạn như TDMA và OFDMA [15].
Do đó, NOMA cũng đã được đề xuất đưa vào LTE-A [16]. Đặc biệt, không yêu cầu bất kỳ thay đổi nào đối với các khối tài nguyên LTE (tức là các sóng mang con OFDMA), việc sử dụng nguyên tắc NOMA đảm bảo rằng hai người dùng được phục vụ đồng thời trên cùng một sóng mang con OFDMA. Hơn nữa, NOMA gần đây đã được đưa vào tiêu chuẩn kỹ thuật số vô tuyến, trong đó nó được gọi là ghép kênh phân chia lớp [17]. Đặc biệt, hiệu quả sử dụng phổ của phát sóng truyền hình được cải thiện bằng cách sử dụng nguyên tắc NOMA và áp dụng nhiều luồng dữ liệu.
Các ví dụ trên cho thấy rõ tiềm năng lớn của NOMA, không chỉ đối với mạng 5G, mà còn đối với các hệ thống không dây sắp tới và hiện tại khác. Ý tưởng chính của NOMA là phục vụ nhiều người dùng cùng lúc tài nguyên. Cách tiếp cận điển hình cho NOMA là nhóm người dùng và chồng các tín hiệu dữ liệu của họ bằng cách sử dụng các công suất truyền khác nhau trước khi truyền tín hiệu nhóm của nhóm theo cùng một cách (cùng một miền). Người dùng thường được nhóm để có các điều kiện kênh rất khác nhau.
Người dùng có kênh kém hơn được phân bổ công suất truyền cao hơn để (một phần) khắc phục các điều kiện kênh kém và nhiễu do người khác. Trong mỗi nhóm, 9 người dùng có kênh tốt hơn có thể giải mã tín hiệu được gửi đến người dùng với kênh kém hơn và do đó nhiễu có thể được loại bỏ bằng một quá trình gọi là khử nhiễu liên tiếp (SIC) [4]. Do đó, người dùng có kênh tốt hơn không cần phải được phân bổ công suất truyền cao để đạt được tốc độ truyền thông tốt. Có hai nhược điểm đáng lưu ý của SIC.
Hạn chế đầu tiên và quan trọng nhất là thông tin trạng thái kênh (CSI) được yêu cầu ở phía bên nhận để sử dụng SIC, mà không phải chịu sự can thiệp đáng kể.