CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng và một số vấn đề về hoạt động tín dụng 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội.
Từ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Creditium” có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định. Theo Bùi Diệu Anh (2013), “có thể xem xét khái niệm tín dụng dưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn: Trên thị trường tài chính tín dụng được hiệu là sự dịch chuyển quỹ/vốn từ các chủ thể thặng dư tiết kiệm sang các chủ thể thiếu hụt tiết kiệm. Theo nguồn gốc lịch sử tín dụng được hiểu là sự chuyển giao một lượng giá trị dưới dạng hàng hóa để nhận về lời cam kết sẽ hoàn trả đủ gốc và lãi trong tương lai.” Từ đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định và với một khoản chi phí nhất định”. Thực tế trong hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng đóng vai trò cơ bản, là nguồn thu chủ yếu trong kết quả sản xuất kinh doanh.
Tín dụng được xem là chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng thương mại. Chức năng kinh tế này thể hiện qua việc cung cấp vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế để hoạt động kinh doanh, sản xuất. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn ngày càng tăng, hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại lại ngày một cần thiết hơn. Tín dụng thể hiện giống như hoạt động kinh doanh hàng hóa, mà hàng hóa đây là tiền tệ và giá cả được thể hiện bằng lãi suất phải trả khi sử dụng hàng hóa đó.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng ta chỉ tập trung xem xét quan hệ tín dụng ngân hàng. Khái niệm tín dụng ngân hàng có thể được hiểu như sau: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác) chuyển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp,cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Bản chất của tín dụng Bản chất của tín dụng được hiểu theo 2 khía cạnh sau: - Thứ nhất: Tín dụng là quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay. Nhờ quan hệ này, vốn được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế – xã hội.
- Thứ hai: Tín dụng được biểu hiện là vốn (hiện vật hoặc hiện kim) vận động theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi, đáp ứng các nhu cầu cho các chủ thể tín dụng. Các hình thức tín dụng Phân loại tín dụng ngân hàng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa theo một số tiêu thức nhất định phục vụ cho mục đích quản trị hoạt động tín dụng. - Theo mục đích sử dụng vốn: Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh: bao gồm tất cả các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhằm hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tín dụng tiêu dùng: là loại hình tín dụng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân: mua sắm nhà cửa, chi tiêu, sinh hoạt gia đình,…Mục đích của tín dụng tiêu dùng là hỗ trợ cải thiện đời sống vật chất, sinh hoạt cho các thành viên trong xã hội, kích thích tiêu dùng, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, đồng thời tín dụng tiêu dùng cũng giúp cho các doanh nghiệp tăng doanh số tiêu thụ, mở rộng thị trường hướng đế tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh.
Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác: Những khoản tín dụng này thường được các tổ chức tín dụng/ngân hàng lớn tài trợ cho các tổ chức tín dụng nhỏ, nhằm đáp ứng một phần nhu cầu của các tổ chức này. - Theo thời hạn cấp tín dụng: Tín dụng ngắn hạn: bao gồm các khoản cấp tín dụng có thời hạn đến 1 năm, nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng có thời hạn ngắn của dân cư. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Tín dụng trung hạn: bao gồm các khoản cấp tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín dụng này được sử dụng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố định, mở rộng và xây dựng các công trình có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: bao gồm các khoản cấp tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn thường được sử dụng để hỗ trợ vốn xây dựng cơ bản, đầu tư các công trình có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn dài. - Theo tính chất bảo đảm/mức độ tín nhiệm của người vay: Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại hình tín dụng chỉ dựa trên uy tín của chính người nhận tín dụng, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/dự án vay vốn, không cần phải có các biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm. Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng dựa trên cơ sở của các biện pháp bảo đảm được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự như: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh,….
- Theo xuất xứ của khoản tín dụng: Tín dụng trực tiếp: bao gồm những khoản tín dụng được hình thành trực tiếp trong quan hệ giữa ngân hàng và người vay. Tín dụng gián tiếp: bao gồm các khoản tín dụng được ngân hàng thực hiện trên cơ sở mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán trên các phiếu bán hàng, thương phiếu… từ người sở hữu chúng. Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc thừa thiếu vốn tạm thời thường xảy ra ở các chủ thể trong nền kinh tế. Quan hệ tín dụng thực hiện kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn trong nước và ngoài nước.
Tín dụng với tư cách tập trung và phân phối lại vốn, sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu về vốn cho xã hội, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Thông qua hoạt động tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho vay, thực hiện nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, tín dụng góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Lượng tiền tồn đọng trong lưu thông giảm xuống nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu luân chuyển hàng hóa, thiết lập mối quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 hệ cân đối tiền – hàng làm cho hệ thống giá cả không bị biến động lớn, Nhà nước có thể thu hút được một lượng tiền mặt dư thừa trong lưu thông vừa không phải phát hành thêm tiền mà tình trạng thiếu tiền mặt cục bộ được giải quyết. Mặt khác, việc mở rộng quan hệ tín dụng làm gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, làm gia tăng cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường, tao cơ sở vững chắc cho sự ổn định giá cả hàng hóa.
Như vậy, hoạt động tín dụng đã từng bước củng cố và tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia từ đó ổn định lưu thông tiền tệ và sức mua đồng tiền. Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội. Vai trò này được coi là hệ quả tất yếu của hai vai trò trên. Nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định về tiền tệ và giá cả, sẽ là điều kiện cơ bản nâng cao dần đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Ngoài ra, trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước còn vận dụng quan hệ tín dụng như công cụ tài chính để thực hiện vai trò quản lý điều tết vĩ mô nền kinh tế xã hội. Thể hiện qua các chương trình hỗ trợ tài chính của Nhà nước: chương trình cho vay xóa đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm,… mang lại những hiệu quả rất lớn, đời sống của người nghèo từng bước được cải thiện, một số vấn đề xã hội phát sinh trong cơ chế thị trường được giải quyết tốt. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, các nước thực hiện chính sách kinh tế mở thì tín dụng ngày càng trở nên cần thiết. Tín dụng quốc tế tạo điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia thực hiện nhanh hơn, mở rộng xuất khẩu hàng hóa, góp phần xây dựng sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế.
Hiệu quả hoạt động tín dụng 1. Quan niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm hiệu quả được hiểu là: “Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại”. Như vậy, có thể hiểu mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra chính là căn cứ cơ bản để đo lường hiệu quả. Nói cách khác, đó là sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí và lợi nhuận.
Hiệu quả có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Theo phạm vi tác dụng trong xã hội, hiệu quả được chia thành hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong đó hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế trực tiếp và gián tiếp mà các chủ thể kinh tế thu được với các chi phí trực tiếp và gián tiếp mà chủ thể kinh tế phải bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Về mặt định tính, hiệu quả kinh tế phản ánh sự gắn bó giữa kết quả thực hiện những mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội (Trần Công Hòa).