chương 1 tác giả đã giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu cũng như sự cần thiết thực hiện đề tài nghiên cứu. Đồng thời tác giả cũng đưa ra mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu của tác giả sau khi thực hiện luận văn này trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương này cũng đưa ra một số phương pháp nghiên cứu sẽ thực hiện trong luận văn và ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu đối với BIDV Long An trong công tác tín dụng đối với khách hàng cá nhân của chi nhánh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Mục tiêu của chương 2 là hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả tín dụng và các chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả tín dụng của các NHTM.
Đồng thời, lược khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến hiệu quả tín dụng của NHTM. Để đạt được mục tiêu này, chương 2 đề cập đến những vấn đề sau: 2.1 Tổng quan về tín dụng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại: 2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng và tín dụng cá nhân: 2.1 Khái niệm tín dụng của NHTM: Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay.
Đây chính là quan hệ tín dụng. Theo Wikipedia “Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa”. Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế- xã hội. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã.
Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tín dụng xuất phát từ thuật ngữ “Credits”, được hiểu là sự cho vay cho mượn, và cũng được hiểu là sự tín nhiệm, sự tin tưởng. Như vậy, có thể hiểu là sự cho vay, cho mượn dựa trên sự tín nhiệm và uy tín của các bên tham gia.
Tín dụng được mô tả theo sơ đồ sau: 1. Cho vay vốn Chủ thể cho vay Chủ thể đi vay 2. Hoàn trả vốn và lãi (Theo Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Tóm lại, tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì quan hệ tín dụng càng đa dạng, tùy thuộc vào cơ sở xem xét mà có thể phân thành nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào chủ thể tham gia tín dụng ta có thể phân loại thành: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và tín dụng nhà nước. Trong đó, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng.
Có thể hiểu tín dụng ngân hàng qua các khái niệm như sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên (Theo Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn, 2014). Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản phí nhất định. (Nguyễn Minh Kiều, 2014) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; - Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời; - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng là người cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, với cam kết là khách hàng phải hoàn trả nợ gốc, lãi đúng hạn và phải sử dụng vốn vay đúng mục đích.2 Khái niệm tín dụng cá nhân: Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tín dụng cá nhân được hiểu là hình thức cấp tín dụng mà trong đó ngân hàng thương mại đóng vai trò là người chuyển nhượng vốn hoặc tài sản của mình cho đối tượng là khách hàng cá nhân, hộ gia đình để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận.
Tùy theo mục đích tài trợ mà tín dụng dành cho khách hàng cá nhân có thể được phân chia thành hai loại hình chủ yếu là: tín dụng tiêu dùng và tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh.2 Đặc điểm của tín dụng cá nhân: - Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn. So với việc cho vay khách hàng tổ chức, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn. Tuy nhiên, xét về tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân nhiều. - Thứ hai, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt.
Khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chỉnh hàng quý, bán niên hoặc mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định hoặc trên cơ sở mua bán vốn tuỳ theo từng ngân hàng.
- Thứ ba, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của ngân hàng. Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay lại rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ.
- Thứ tư, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao. Rủi ro trong cho vay đối với khách hàng cá nhân cao hơn cho vay doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau: Rủi ro về lãi suất: Đối với các khoản cho vay trung dài hạn, một số ngân hàng và khách hàng thường không thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất cố định trong suốt thời hạn cho vay. Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất sẽ tăng cao trong trường hợp lãi suất huy động có sự biến động mạnh.
Rủi ro đạo đức: Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên, đối với những khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt … ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng.
- Thứ năm, lợi nhuận từ tín dụng cá nhân lớn. Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của ngân hàng thương mại (NHTM). Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Vai trò của tín dụng cá nhân: 2.1 Đối với nền kinh tế: - Góp phần thu hút số tiền nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những nguồn vốn bằng tiền tạm thời chưa sử dụng thuộc sở hữu của các cá nhân, hộ gia đình. Đồng thời, ở các cá nhân, hộ gia đình khác cũng xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời cần được giải quyết.