Chương 1: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về phương thức hoạt động hỗ trợ 10 z doanh nghiệp đổi mới công nghệ” nhằm nghiên cứu một số khái niệm về đổi mới công nghệ, vai trò của đổi mới công nghệ, nhu cầu và phương thức của hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó nêu lên thực trạng hỗ trợ doanh nghiệp ĐMCN cũng như một số kinh nghiệm và chính sách tương đối điển hình của một số nước để áp dụng hỗ trợ cho việc đổi mới công nghệ của Việt Nam. Chương 2: “Thực trạng về phương thức hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia” tập trung phân tích hiện trạng một số hoạt động của quỹ (văn bản, bộ máy, quy trình) bên cạnh đó nêu lên được những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Chương 3:“Đề xuất giải pháp đổi mới phương thức hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ”, nêu ra đề xuất, giải pháp đổi mới phương thức hoạt động của Quỹ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động để giúp doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân mạnh dạn thay đổi tư tưởng và quan tâm đến việc đổi mới công nghệ góp phần nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, dịch vụ, công nghệ…nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong toàn xã hội.
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Đình Bình, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia- Bộ Khoa học và Công nghệ đã tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành luận văn và các anh/chị cán bộ của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tác giả luận văn được thảo luận, xin ý kiến và nhận được các tài liệu quý báu làm tư liệu cho luận văn. Tác giả cũng xin cảm ơn một số công ty đã tạo điều kiện cho tác giả được phỏng vấn để tác giả có được các nhận định và kiến nghị được nêu trong luận văn này. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHƢƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Trong chương này, tác giả sẽ nghiên cứu trình bày một số quan điểm về khái niệm đổi mới công nghệ, vai trò của đổi mới công nghệ, nhu cầu và phương thức của hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Bên cạnh đó nêu lên thực trạng hỗ trợ doanh nghiệp ĐMCN, cũng như một số kinh nghiệm và chính sách tương đối điển hình của một số nước để áp dụng hỗ trợ cho việc đổi mới công nghệ của Việt Nam 1. Tổng quan về đổi mới công nghệ 1. Khái niệm đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ nói hiện nay là một khái niệm còn nhiều tranh cãi. Xuất phát từ các bộ phận cấu thành công nghệ[10], đổi mới công nghệ là việc hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế và xã hội; với quan điểm này, thì bất kỳ một sự thay đổi nào trong các thành phần công nghệ đều có thể coi là đổi mới công nghệ.
Nguyễn Sỹ Lộc và các tác giả (2006)[3] cho rằng: đổi mới công nghệ là việc đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới hoặc mới sử dụng lần đầu trong hoàn cảnh mới; đây có thể được hiểu là một hoạt động trong quá trình áp dụng và quản lý công nghệ, tương tự như thay thế hay loại bỏ công nghệ, cả ở cấp độ doanh nghiệp, ngành và cấp độ toàn nền kinh tế. Để làm rõ hơn khái niệm này, Lê Xuân Bá và Vũ Xuân Nguyệt Hồng (2008)[1] cho rằng trong điều kiện của Việt Nam hiện nay thì đổi mới công nghệ là hoạt động thay đổi toàn bộ hay cải tiến công nghệ đã có của doanh nghiệp, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đây thường được hiểu là hoạt động thay thế phần cơ bản hay phần cốt yếu của một công nghệ đang sử dụng 12 z bằng công nghệ khác tiên tiến hơn, góp phần thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Ngoài ra, đổi mới công nghệ có thể được hiểu là việc ứng dụng hay phổ biến những công nghệ hoàn toàn mới hoặc mới sử dụng công nghệ lần đầu trong một điều kiện mới hay hoàn cảnh mới.
Với quan điểm hướng tới thị trường, Schilling (2009)[23] cho rằng đổi mới công nghệ là việc giới thiệu, đưa ra một thiết bị, phương pháp hoặc vật liệu mới nhằm hướng tới các mục tiêu thương mại hoặc thực tế sản xuất, kinh doanh. Chúng bao gồm các ý tưởng sáng tạo và đòi hỏi sự cần thiết phải kết hợp ý tưởng, nguồn lực và kỹ năng để hiện thực hóa ý tưởng đó thành sản phẩm mới, quy trình mới. Tuy nhiên, Khalil (2002)[21] cho rằng đổi mới công nghệ là một hệ thống các hoạt động phức tạp nhằm chuyển đổi các ý tưởng và kiến thức khoa học thành thực thể vật chất và các ứng dụng trong hiện thực; đó là quá trình biến đổi tri thức thành các sản phẩm và dịch vụ hữu ích có tác động tới sự phát triển của nền kinh tế và bao gồm các lĩnh vực: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ, thực thi công nghệ, sản xuất, marketing, truyền bá và mở rộng công nghệ. Hiện nay, quan niệm về đổi mới công nghệ được sử dụng tương đối rộng rãi trên thế giới là quan niệm của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được ghi trong cẩm nang Oslo (1996)[21]; theo quan điểm này thì đổi mới công nghệ (bao gồm đổi mới quy trình sản xuất và sản phẩm) là việc tạo ra sản phẩm hoặc quy trình sản xuất mới hoặc có những cải tiến công nghệ đáng kể về sản phẩm hoặc quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ diễn ra khi đưa ra thị trường sản phẩm mới (đổi mới sản phẩm) hoặc công nghệ mới được sử dụng trong quá trình sản xuất (đổi mới trong quy trình).
Đổi mới công nghệ gồm nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại, qua đó một doanh nghiệp được coi là đổi mới công nghệ nếu doanh nghiệp đó sản xuất ra sản phẩm mới hoặc có quy trình sản xuất mới hoặc có những cải tiến đáng kể về sản phẩm hay quy trình sản xuất trong thời kỳ xem xét. 13 z Thông tư số 03/2012/TT-BKHCN ngày 18/01/2012 và sau đó là Thông tư số 09/2013/TT-BKHCN ngày 15/3/2013 của Bộ Khoa học và công nghệ về hướng dẫn quản lý Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, theo đó đổi mới công nghệ được hiểu là việc thay thế một phần hay toàn bộ công nghệ đã, đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn. Các hoạt động chủ yếu của đổi mới công nghệ bao gồm: nghiên cứu nhận dạng, đánh giá, định giá công nghệ và thay thế công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ tiên tiến; nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện công nghệ hoặc nghiên cứu làm chủ và sáng tạo ra công nghệ mới; áp dụng phương pháp sản xuất mới, phương pháp tiên tiến trong quản lý doanh nghiệp; phát triển tính năng, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Dự án hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ bao gồm: dự án ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống thông tin quản lý nguồn lực doanh nghiệp và quảng cáo sản phẩm; dự án xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, chuyên gia công nghệ; dự án nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ứng dụng công nghệ tiên tiến, sản xuất sản phẩm mới, thay đổi quy trình công nghệ.
Như vậy, quan điểm về đổi mới công nghệ ở đây là sự kết hợp có chọn lọc các quan điểm về đổi mới công nghệ và dựa trên tinh thần của Thông tư số 09/2013/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ; theo đó, đổi mới công nghệ là hoạt động thay đổi toàn bộ công nghệ hay thay đổi phần quan trọng của công nghệ mà các doanh nghiệp đang sử dụng bằng công nghệ khác tiên tiến hơn, góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, giảm thiểu tác động xấu tới môi trường và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đổi mới công nghệ bao gồm các hoạt động cơ bản sau: (1) thay đổi toàn bộ máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ; (2) thay đổi phần quan trọng, cốt yếu của công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác tiên tiến hơn; (3) đổi mới quy trình/sản phẩm để đưa sản phẩm ra thị trường bằng hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D). Vai trò của đổi mới công nghệ +) Đối với doanh nghiệp Tiến bộ công nghệ thông qua đổi mới công nghệ tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp (Khalil, 2002)[21]. Điều này cho thấy hoạt động đổi mới công nghệ có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó thể hiện ở chỗ công nghệ mới hơn, tiên tiến hơn nếu được sử dụng một cách khoa học thường sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn, năng suất cao hơn, chi phí sản xuất rẻ hơn.
Thông qua đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp có thể gắn kết hoạt động R&D với quá trình sản xuất, đây là một khâu quan trọng để giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ công nghệ. Các doanh nghiệp thường quan tâm đến hoạt động R&D như là nguồn đổi mới quan trọng. Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp xây dựng mạng lưới hợp tác với khách hàng, nhà cung ứng, các trường đại học và thậm chí với các đối thủ cạnh tranh trong những bối cảnh cụ thể; đồng thời có thể cộng tác với các nhà sản xuất sản phẩm thay thế, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các tổ chức phi lợi nhuận và tổ chức nghiên cứu khác. Trình độ công nghệ của đa số doanh nghiệp hiện nay còn lạc hậu, đầu tư cho các hoạt động R&D còn hạn chế như: một số doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực linh kiện điện tử, dệt may, da giày, cơ khí chế tạo còn thấp, nên giá trị sản phẩm tạo ra còn chưa cao.
Vì thế đổi mới công nghệ là tiền đề quan trọng để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.