chương 1). Thông qua việc triển khai các quản lý của bảo hiểm tiền gửi như: Cấp và thu hồi Chứng nhận tham gia bảo hiém tiền gửi, Tinh và thu phi bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia BHTG, Theo dõi kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi; kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý hành vi vi phạm quy định cau pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, Chi trả bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi. Đặc biệt là quản lý Chi trả bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi mà tác giả lựa chọn nghiên cứu đã góp phần nâng cao niềm tin của người dân với những chính sách công của Chính phủ, thông qua vai trò bảo vệ người gửi tiền, xây dựng và củng có niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, BHTG có vai trò quan trọng thúc day quá trình huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế và 6n định xã hội. Huy động vốn trong dân dé phục vụ phát triển là yêu cầu quan trọng đặt ra đối với mỗi nền kinh tế, đặc biệt ở những nước đang phát triển như Việt Nam thì nhu cầu này càng lớn.
Nhà nước sử dụng nhiều kênh dé thu hút nguồn vốn nhưng có một kênh rất quan trọng là thu hút nguồn vốn qua các ngân hàng. Ở những nước có tô chức BHTG, tổ chức này sẽ đứng ra thay mặt Chính phủ dé bảo vệ tiền gửi của người dân trước những biến động trên thị trường tiền tệ, giúp họ yên tâm hơn khi gửi tiền vào ngân hang, từ đó thúc day quá trình huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, góp phần cho sự 6n định và củng cô hệ thống chính trị mà trước hết là vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước là tiền đề cho việc phát triển kinh tế, bảo đảm ôn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. 12 phát triển đảm bảo kinh tế và an toàn hệ ổn định xã thống ngân hội hàng xử lý khủng khoảng tài (Nguồn: Tác giả) Hình 1.3: Vai trò của BHTG - Bảo vệ người gửi tiền: BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng. Đối với bất kỳ quốc gia nào thì vẫn đề bảo vệ người tiêu dùng cũng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, chính vì vậy BHTG chính là công cụ tài chính hữu hiệu mà Chính phủ sử dụng nhằm bảo vệ người gửi tiền.
BHTG có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của người dân, trong trường hợp TCTGBHTG phá sản thì BHTG có trách nhiệm chỉ trả số tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền. Chính sự bảo vệ này tạo được niềm tin cho người gửi tiền vào hệ thong tai chinh — ngan hang noi riéng va vao Chinh phu noi chung. - Đảm bảo an toàn hệ thống ngân hang: BHTG góp phần trong việc đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng. Với sự đảm bảo của BHTG, người gửi tiền có thé yên tâm gửi tiền tại bat ky TCTGBHTG nao, đó có thé là TCTD nhỏ hoặc NHTM lớn.
BHTG đã tạo ra một môi trường bình đăng cho tất cả các TCTD, đặc biệt là các TCTD có quy mô nhỏ bằng một hạn mức chỉ trả tiền bảo hiểm giống nhau. Nếu không có BHTG thì người gửi tiền sẽ phân vân khi phải 13 lựa chọn gửi tiền tại các NHTM lớn hay các QTDND nhỏ, nhưng với sự đảm bao của BHTG thì họ có thể yên tâm rằng tiền gửi của mình vẫn được an toàn dù gửi ở bat kỳ TCTGBHTG nào. Chính điều đó đã thúc day hoạt động tin dụng phát triển bình dang, lành mạnh tránh được tinh trạng thu hẹp cơ hội khách hàng đến với các TCTD quy mô nhỏ. - Phát triển kinh tế và 6n định xã hội: BHTG góp phần thúc đây quá trình huy động vốn phục vu phát triển kinh tế và 6n định xã hội.
Dé phát triển kinh tế và ồn định xã hội Nhà nước sử dụng rất nhiều kênh thu hút vốn trong đó tiền gửi tại các TCTD là một kênh vô cùng quan trọng. Từ việc BHTG tạo được niềm tin cho người gửi tiền sẽ giúp người dân tạo thói quen gửi tiền vào ngân hàng thay vì các kênh đầu tư khác như: đầu tư bat động sản hay tích trữ vàng hoặc cat giấu tại nhà. - Xử lý khủng hoảng tài chính: BHTG không chi có vai trò quan trọng trong thời kỳ kinh tế 6n định mà còn góp phan không nhỏ trong quá trình xử lý khủng hoảng tài chính — ngân hàng. Khi có khủng hoảng tài chính — ngân hàng thì hiện tượng rút tiền hàng loạt là điều chắc chắn sẽ xảy ra, chính lúc này BHTG chính là công cụ đắc lực của Chính phủ dé đối phó với với tình hình khó khăn này.
Thực tế khủng hoảng tai chính xảy ra năm 2008 đã chứng minh BHTG chính là biện pháp giúp Chính phủ tạo lập được niềm tin đối với người gửi tiền vào hệ thống tài chính — ngân hàng. Chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của TCBHTG - Chức năng của TCBHTG: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phan duy trì sự ổn định của các TCTD, đảm bảo sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động tài chính ngân hàng” (Thủ tướng Chính phủ, 1999. Quyết định số 218/1999/QD-TTg, ngày 09/11/1999). - Nhiệm vụ và các hoạt động chính của TCBHTG: Trên thế giới hiện nay có ba mô hình BHTG phổ biến: Mô hình chi trả, Mô hình chỉ trả với quyền hạn được mở rộng, và Mô hình giảm thiêu rủi ro.
Tùy thuộc theo TCBHTG hoạt động theo mô hình nào mà có nhiệm vụ khác nhau: 14 Thứ nhất - Mô hình chuyên chỉ trả: Theo mô hình này, TCBHTG được thành lập chỉ nhằm thực hiện một nhiệm vụ duy nhất đó là chỉ trả bảo hiểm cho người gửi tiền khi TCTGBHTG bị phá sản. Mô hình này thường tồn tại ở các nước dang phát triển, TCBHTG mới được thành lập và còn nhỏ bé cả về quy mô tổ chức lẫn năng lực tài chính. Thứ hai - Mô hình chi trả với quyên hạn được mở rộng: “Theo đó, TCBHTG con được trao thêm một số quyển hạn mở rộng như: hỗ trợ tài chính cho TCTGBHTG gdp khó khăn trong thanh toán; theo dõi và khuyến nghị sự cẩn trọng và phòng tránh rủi ro đối với các TCTGBHTG; tham gia xử ly nợ và thu hồi nợ của TCTGBHTG bi phá sản. Qua đó cũng làm tăng thêm các mục tiêu cân đạt được của chính sách công nhự hạn chế rủi ro, tránh đồ vỡ hệ thống hoặc khủng hoảng tài chính, gia tăng niềm tin cua công chúng.
BHTGVN hiện tại đang hoạt động theo mô hình chi trả với quyén hạn mở rộng với chức năng chính như: Chi trả bảo hiểm, Giám sát, Kiểm tra, Tham gia quá trình KSĐB”. (Đặng Duy Cường, 2007. Mô hình tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro, Thông tin BHTG, tr5. Thứ ba - Mô hình giảm thiểu rủi ro: Day là một mô hình tiên tiễn nhất và cũng dần phô biến trên thế giới.
Ngoài nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, TCBHTG theo mô hình giảm thiểu rủi ro còn tham gia cùng với các cơ quan nha nước và ngân hàng trung ương vào hoạt động giám sát và đánh giá rủi ro của các ngân hàng và các định chế tài chính khác, góp phần bảo đảm sự an toàn và hoạt động bình thường của hệ thống tài chính — tiền tệ quốc gia; tính phí bảo hiểm dựa trên cơ sở định mức tín nhiệm của tổ chức tài chính; tham gia tái cơ cau các TCTGBHTG yêu kém; tham gia xử lý đồ vỡ va thu hồi nợ đối với các TCTGBHTG bị phá sản; được trao các quản lý kinh doanh, đầu tư nhằm bảo toàn phát triển vốn ban đầu cũng như tăng cường sức mạnh tai chính, giảm dan sự phụ thuộc vao ngân sách của Chính phủ. Theo khuyến nghị của IADI tại nguyên tắc thứ 1 về mục tiêu chính sách công có thể so sánh nhiệm vụ của TCBHTG của 3 mô hình như sau: 15 Bảo vệ người gửi tiên nhỏ thông qua việc cung cấp cơ chế bồi thường Khuyên khích người gửi tiền ít hiểu biết 2 | về tài chính giám sát ngân hang và thực X x x hiện các nguyên tac thị trường Giảm gánh nặng cho Chính phủ và yêu 3 | cầu các ngân hàng tốt đóng góp chi phí Xx x x trong quá trình xử lý ngân hàng Thúc đây cạnh tranh trong khu vực tải 4 Í chính x x x Tao ra một cơ chê chính thức trong việc 5 Ww, 4am A ĐÀ x x xử lý đô vỡ ngân hang 6_ | Tránh khủng hoảng tài chính X X 7 | Thúc đây ôn định tai chính x Khuyên khích tiét kiệm và thúc đây tăng 8 > : H X trưởng kinh tê 9 Góp phan vào hệ thông thanh toán có trật x tu 10 | Thúc day tăng trưởng tài chính X 1I | Giảm thiêu tác động của suy thoái kinh tê X (Nguồn: tổng hợp của tác giả) 1. Nội dung về quản lý chỉ trả bảo hiểm 1. Lập kế hoạch chuẩn bị Chi trả bảo hém Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức của hoạt động Chi trả bảo hiểm dé đạt được các mục tiêu đó, bao gồm các nội dung sau: Chuẩn bị chỉ trả.
Nguyên tắc 17 của IADI nêu rõ “hệ thống BHTG nên cho phép người gửi tiền tiếp cận ngay lập tức tài khoản được bảo hiểm của họ. Trên thực tẾ, thời hạn chi trả cho người gửi tiền tại mỗi quốc gia khá khác biệt và thường được tính từ sự kiện khởi điểm từ khi một tô chức rơi vào tình trạng không thể tồn tại được đến khi bị tòa án tuyên bố phá sản. 16 Lưu ý là thời hạn chỉ trả mục tiêu bắt đầu từ ngày đóng cửa ngân hàng. Các thời hạn này không bao gồm thời gian mà tổ chức BHTG can dé chuẩn bi cho việc chi trả trước khi đóng cửa.
Cu thể là, tổ chức BHTG không thé chi trả cho người gửi tiền đủ điều kiện ngay lập tức nếu họ không có đủ thời gian chuẩn bị trước khi đóng cửa ngân hàng. Dé đánh giá mức độ hạn chế hoặc mức độ triển khai yêu cầu từ đối với tổ chức BHTG, ngoải các nhân tố như mức độ phức tạp của các quy định, khoảng thời gian từ khi tổ chức BHTG có thâm quyền tiếp cận dữ liệu người gửi tiền cũng nên được xem xét.