Chương 1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam sau M&A TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 3 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam sau M&A Chương 4 Phương pháp nghiên cứu bao dữ liệu DEA, dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam sau M&A 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam sau khi tham gia M&A. Bằng cách tiếp cận nguồn dữ liệu mới nhất năm 2015, thông qua việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống và phương pháp phân tích bao dữ liệu, với kết quả có được, đề tài chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến việc hoạt động thiếu hiệu quả của các NH TMCP sau M&A và đưa ra các giải pháp cụ thể. Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm kiến thức có ích cho các nhà quản lý NH TMCP, giúp họ cân nhắc lựa chọn giải pháp tối ưu nhất phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình khi tham gia M&A.
Đồng thời, giúp các cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá được tình hình hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NH TMCP sau M&A và điều chỉnh các chính sách phù hợp. Qua đó, khai thác tác động tích cực cũng như hạn chế tiêu cực, rút ngắn giai đoạn tái cơ cấu ngành ngân hàng Việt Nam và góp phần tạo nên hệ thống ngân hang bền vững. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ M&A VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 giới thiệu tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP tại Việt Nam sau M&A. Tác giả đưa ra các cơ sở lý thuyết về khái niệm M&A và M&A trong ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM). Thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước để nêu lên điểm mới của đề tài. Tổng quan về M&A trong ngân hàng thương mại 2. Khái niệm M&A M&A (viết tắt của Mergers and Acquisition), có nghĩa là sáp nhập và mua lại.
Yadav AK và Kumar BR (2005) cho rằng sáp nhập và mua lại là một phương tiện kinh tế mà các doanh nghiệp sử dụng để mở rộng danh mục sản phẩm và thị trường, tiếp cận với nghiên cứu và phát triển, và khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên, cho phép các công ty cạnh tranh trên quy mô toàn cầu. Theo Kishoe và Ravi M. (2009), sáp nhập xảy ra khi hai hay nhiều công ty kết hợp lại thành một. Sáp nhập được định nghĩa là một giao dịch liên quan đến hai hoặc nhiều hơn các công ty trong trao đổi chứng khoán và chỉ có một công ty tồn tại.
Khi các cổ đông của nhiều công ty, hai công ty hoặc nhiều hơn quyết định dành nguồn lực của công ty dưới một tổ chức bao trùm nó được gọi là sáp nhập. Nếu kết quả của thương vụ sáp nhập mang lại là hình thành và tồn tại một công ty mới thì gọi là hợp nhất. Theo Pradeep Kumar Gupta (2012), M&A là hoạt động chiến lược trong đó doanh nghiệp tái cấu trúc lại bằng cách thay đổi nhờ bên ngoài. Theo Nguyễn Thị Diệu Chi (2014), sáp nhập – hợp nhất là hai hoặc một số doanh nghiệp cùng thỏa thuận với nhau nhằm chia sẻ tài sản, thị phần, thương hiệu để hình thành một doanh nghiệp mới với tên gọi mới và chấm dứt sự tồn tại của các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 doanh nghiệp cũ.
Do vậy, sáp nhập – hợp nhất là xảy ra đối với các thương vụ M&A mang tính chất thân thiện. Trong khi đó, mua lại là chỉ một doanh nghiệp thực hiện mua lại hoặc thôn tính một doanh nghiệp khác và không hình thành nên một pháp nhân mới. Mua lại xảy ra khi doanh nghiệp mua lại giành được quyền kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu. Đó có thể là quyền kiểm soát cổ phiếu, quyền kinh doanh hoặc tài sản của doanh nghiệp mục tiêu.
Mua lại thường xảy ra ở những thương vụ mang tính chất thù địch, thâu tóm lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, tổ chức. Tại Việt Nam, sáp nhập và mua lại đã được thể hiện về mặt pháp lý trong 2 bộ luật: Luật doanh nghiệp 2014 và Luật canh tranh 2004. Theo điều 17 luật cạnh tranh 2004: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợp ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.
Tại điều 195 luật doanh nghiệp 2014 quy định: “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.” Như vậy về mặt lý thuyết, có rất nhiều khái niệm về M&A được đưa ra. Tổng quan có thể hiểu khái niệm M&A như sau: Sáp nhập là sự đồng thuận của hai hay nhiều doanh nghiệp cùng góp chung tài sản của mình nhằm hình thành một doanh nghiệp mới (mới về sở hữu, quản trị và pháp lý), hủy bỏ sự tồn tại của doanh nghiệp cũ. Doanh nghiệp mới có thể cùng tên với 1 trong các doanh nghiệp cũ. Trong trường hợp doanh nghiệp mới có tên gọi hoàn toàn khác so với các doanh nghiệp sáp nhập, ta gọi đó là hợp nhất.
Hợp nhất doanh nghiệp là một trường hợp đặc biệt trong sáp nhập doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Mua lại là hoạt động giành quyền kiểm soát một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp mua lại chỉ cần sở hữu phần tài sản đủ lớn của doanh nghiệp bị mua để nắm quyền chi phối về chiến lược hay ngành nghề của doanh nghiệp bị mua. Về cơ bản, M&A phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được.
Phân loại mua bán và sáp nhập 2. Phân loại sáp nhập * Căn cứ mối quan hệ cạnh tranh giữa các bên liên quan trong hoạt động sáp nhập: Sáp nhập theo chiều ngang (Horizontal Mergers): Là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành, việc sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp, có cùng loại sản phẩm và thị trường. Ví dụ: hai ngân hàng sáp nhập với nhau. Kết quả từ việc mua bán, sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng hiệu quả hệ thống phân phối.
Sáp nhập theo chiều dọc (Vertical Mergers): Là sáp nhập giữa các doanh nghiệp nằm cùng chuỗi cung ứng, mỗi doanh nghiệp tham gia một giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trường. Hoạt động sáp nhập theo chiều dọc thường đem lại cho doanh nghiệp sáp nhập nhiều lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra của sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh… Sáp nhập tổ hợp (Colgomerate Mergers): xảy ra khi các công ty hoạt động ở các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh không liên quan tới nhau, không có quan hệ người mua – người bán và cũng chẳng phải là đối thủ cạnh tranh của nhau thực hiện sáp nhập. Nói cách khác, nếu một cuộc sáp nhập không rơi vào hai trường hợp sáp nhập theo chiều dọc hoặc sáp nhập theo chiều ngang thì đó là sáp nhập tổ hợp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 * Căn cứ phạm vi lãnh thổ: Sáp nhập trong nước: Được thực hiện giữa các công ty trong cùng lãnh thổ một quốc gia.
Sáp nhập xuyên biên: Được thực hiện giữa các công ty thuộc hai quốc gia khác nhau, là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp phổ biến nhất hiện nay. Phân loại mua lại * Căn cứ vào thái độ của công ty mục tiêu (công ty bị mua lại): Mua lại bất hợp tác (Hostile Acquisitions): Là hoạt động không được sự ủng hộ của công ty bị mua lại. Việc mua lại có thể ảnh hưởng xấu đến công ty bị mua lại và đôi khi gây tổn hại đến cả bên mua lại. Hoạt động này diễn ra khi công ty mua lại thực hiện việc mua lại cổ phiếu của công ty bị mua lại thông qua phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn, mua gom dần cổ phiếu trên thị trường, và các phương thức khác khi mà không đạt được sự đồng thuận hay biết trước của ban điều hành công ty bị mua lại.
Mua lại hợp tác (Friendly Acquisitions): Là hoạt động mua lại nhưng được được ban quản lý của công ty bị mua lại đồng ý và ủng hộ trên cơ sở thương lượng giữa hai bên. Việc mua lại đó có thể bắt nguồn từ lợi ích chung của cả hai bên. * Căn cứ vào chiến lược mua lại: Mua lại dựa trên vay nợ (Leveraged buyout): Công ty mua lại sẽ vay một lượng tiền lớn để chi trả cho chi phí mua lại. Thông thường, ngoài tài sản của mình thì công ty bên mua cũng sử dụng tài sản của công ty mục tiêu để đảm bảo khoản vay đó.
Chiến lược này giúp công ty có thể tiến hành mua lại mà không cần sở hữu lượng vốn lớn. Sau khi tái cơ cấu lại doanh nghiệp sau mua lại, thường doanh nghiệp sẽ bán một phần công ty hoặc sa thải bớt nhân viên, cắt giảm chi phí, tạo ra thu nhập cao hơn. Phần lớn các doanh nghiệp thực hiện chiến lược này kì vọng tỉ suất hoàn vốn nội bộ từ 20% trở lên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Mua lại cổ phần để giữ quyền quản lý (Management buyout): Đây là hình thức mua lại cổ phần của hội đồng quản trị một công ty nhằm khôi phục quyền quản lý sau khi bị một số nhà đầu tư thâu tóm bằng cách mua lại dựa trên vay nợ.