Chương 1: Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của SHB sau sáp nhập Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của SHB sau sáp nhập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM VÀ MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTM 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả HĐKD của các NHTM 1. Khái niệm về hiệu quả HĐKD của các NHTM Hiệu quả là vấn đề được chú trọng trong nhiều lĩnh vực đời sống và được xem là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của mọi hoạt động.
Trong kinh tế, hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Có nhiều cách tiếp cận để hiểu về khái niệm hiệu quả nói chung và hiệu quả HĐKD nói riêng. Trong phạm vi của luận văn này quan tâm đến các khái niệm về hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là khái niệm hiệu quả HĐKD của các NHTM. Trong đó các các quan điểm nổi bật: Theo nhà kinh tế học Adam Smith, hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa.
Còn Farell (1957) cho rằng hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó. Ngoài ra, còn có quan điểm của Draft (2008), cho rằng hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh. Theo Ngô Đình Giao (1997), hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu thị trường.
Những khái niệm về hiệu quả HĐKD là đa dạng, nhưng có thể hiểu rằng hiệu quả HĐKD là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các HĐKD của doanh nghiệp dựa trên cơ sở so sánh lợi ích (doanh thu, lợi nhuận…) thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 NH là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nhìn ở một góc độ cụ thể hơn lại có những quan điểm riêng về hiệu quả HĐKD của NH: Peter S. Rose (2004) cho rằng: về bản chất NHTM cũng có thể được xem là một tập đoàn kinh doanh, hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Đạt được hiệu quả kinh doanh cao là mục tiêu mà các NH quan tâm vì nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NH, đồng thời có thể giúp NH mở rộng quy mô hoạt động của mình.
Theo NH trung ương châu Âu ECB (2010), hiệu quả HĐKD của NH là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khỏan lợi nhuận giữ lại. Như vậy, HĐKD của NH cũng như các doanh nghiệp khác đều nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.Tuy nhiên, NH còn đóng vai trò của một trung gian tài chính. Đây là ngành kinh doanh có mức độ rủi ro cao so với các ngành khác, nên một NH được đánh giá là hoạt động có hiệu quả không những phải đáp ứng được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với chi phí tối thiểu mà còn phải đáp ứng thường xuyên các yêu cầu về an toàn hoạt động và giảm thiểu mức độ rủi ro.
Do đó, khi đề cập đến khái niệm hiệu quả HĐKD của các NHTM cần phải xem xét tính hiệu quả dựa trên nhiều khía cạnh: lợi nhuận, chi phí, chất lượng tài sản, khả năng đáp ứng thanh khoản,… 1. Những tác động của M&A đến hiệu quả HĐKD của các NHTM Sáp nhập và mua lại (M&A) giữa các NHTM là hoạt động mang đến nhiều lợi ích: bên cạnh việc giúp các NHTM nhỏ có khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến để nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp các NHTMCP lớn và trung bình nâng cao tầm nhìn chiến lược để nắm bắt các khả năng, cơ hội tăng quy mô và mở rộng HĐKD thì đây cũng là một trong những biện pháp để chính phủ tái cấu trúc hệ thống NH, giúp ổn định và kiểm soát hoạt động NH một cách hiệu quả hơn. Dù xuất phát từ nguyên nhân nào thì sau M&A, các NH đều muốn mau chóng đi vào ổn định hoạt động và tăng trưởng lợi nhuận vượt trội như một minh chứng cho lợi ích của việc hợp nhất, sáp nhập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tuy nhiên, ngoài thuận lợi, M&A cũng mang đến những thách thức, tác động không nhỏ đến hiệu quả HĐKD của các NH sau khi tích hợp.
Vì vậy, cần có cái nhìn khái quát về các thuận lợi, khó khăn có thể xảy ra nhằm đưa ra dự báo, giúp phân tích xác thực tình trạng hoạt động của các NHTM, với mục tiêu cuối cùng là đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả HĐKD của các NH. Thuận lợi M&A giữa các NHTM trước hết mang lại lợi thế kinh tế theo quy mô. Việc hợp nhất, sáp nhập sẽ tạo ra một NH mới lớn hơn, có thể hạ thấp chi phí cố định bằng cách tinh giảm các phòng ban, các hoạt động trùng lắp giữa các NH, giảm chi phí của các NH liên quan tới doanh thu từ các sản phẩm giống nhau, giảm chi phí phân phối, mạng lưới… do đó làm gia tăng lợi nhuận biên. Tăng trưởng về quy mô cũng đi đôi với thúc đẩy cơ hội tái định vị thương hiệu:với thế mạnh của từng NH, NH mới sau M&A sẽ tăng cường bao phủ, mở rộng thị phần tạo lợi thế cạnh tranh với các NH khác.
Một số kết quả nghiên cứu củng cố cho điều này: Berger và các cộng sự (1999, trang 36) cho thấy rằng kết quả của những thương vụ M&A có thể dẫn đến những thay đổi trong hiệu quả, sức mạnh thị trường, lợi thế kinh tế theo quy mô, tính sẵn có của dịch vụ cho KH nhỏ và tăng hiệu quả của hệ thống thanh toán. Prager và Hannan (1998) cho thấy rằng việc sáp nhập và mua lại NH tạo ra sự tập trung hóa cao về vốn, quy mô… làm cho lãi suất tiền gửi thấp hơn đáng kể. Bên cạnh tăng trưởng quy mô, M&A giữa cácNH cũng cải thiện khả năng quản trị, gia tăng hiệu quả quản lý nghiệp vụ NH nhờ điều phối nguồn lực.Sau hợp nhất, các nguồn lực sẽ được phân phối lại một cách hợp lý, giúp tạo ra giá trị cộng hưởng cho hoạt động của NH mới, giúp việc vận hành trở nên hiệu quả hơn. Tích hợp giữa các NHTM cũng giúp tạo ra một hệ thống NH khỏe mạnh và ổn định hơn.Thông qua hợp nhất, sức mạnh tài chính của các NH sẽ được gia cố đáng kể và góp phần lành mạnh hóa tính an toàn của hệ thống, ngược lại, khi hệ thống tài chính trở nên an toàn và lành mạnh thì các NHTM sẽ phát triển đồng đều và bền vững hơn.
Ở Việt Nam, M&A giúp các ngân hàng nâng cao tỉ lệ an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel II cũng như đáp ứng quy mô vốn điều lệ của NHNN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ngoài ra, M&A còn giúp các ngân hàng đa dạng hóa rủi ro thông qua lĩnh vực đầu tư và danh mục đầu tư, cơ sở khách hàng hàng và chất lượng khách hàng cũng như củng cố nguồn vốn cho nhu cầu thanh khoản. Khó khăn Không ít người cho rằng biện pháp khuyến khích hay ép buộc các NH hợp nhất trong giai đoạn khủng hoảng NH nghiêm trọng để giảm thiểu rủi ro đổ vỡ NH sẽ không những tạo ra các NH yếu hơn mà còn có thể làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng ngành. Mối lo này xuất phát từ lập luận: khi nhiều NH vẫn đang đối mặt với những vấn đề yếu kém, nếu gộp lại với nhau chưa hẳn đã mạnh lên mà có khi còn phải cùng nhau giải quyết những khó khăn chồng chất trong một thời gian dài.
Nghiên cứu của Shih (2003) đã chỉ ra rằng sáp nhập một NH yếu hơn vào một NH lành mạnh trong nhiều trường hợp sẽ cho ra kết quả một NH thậm chí còn có khả năng thất bại hơn cả hai NH hoạt động trước đó. Vấn đề quản lý nhân sự sau khi tích hợp cũng không hề đơn giản. Sắp xếp nhân sự cấp trung hay cấp cao sẽ có sự thiên vị cho nguồn lực từ ngân hàng nhận sáp nhập hay mua lại. Do vậy có thể bỏ qua nhiều nguồn lực có trình độ từ ngân hàng mục tiêu.
Ngoài ra, còn những vấn đề phải giải quyết về xung đột văn hóa công ty thời hậu M&A: nhân viên có thể không thoải mái với phong cách quản lý và điều hành mới hoặc chống đối với văn hóa của NH nhận sáp nhập. Xung đột này có thể xuất phát từ sự khác biệt trong phương thức quản trị, điều hành của các bên tham gia hợp nhất, sáp nhập, hoặc do sắp xếp nhân sự không hợp lý, không thỏa đáng với các nhân viên, với đội ngũ lãnh đạo cấp trung có năng lực, hoặc do môi trường làm việc khác nhau. Một mối lo nữa cũng xuất phát từ vấn đề năng lực của các nhà quản lý: nếu như những người chủ cũ không đủ năng lực quản lý NH nhỏ một cách hiệu quả thì khó có thể quản lý một NH lớn hoạt động tốt hơn trước. Hoạt động kinh doanh sau M&A còn có thể không đạt kết quả như mong đợi, một phần do chi phí bị đẩy lên quá cao để mua được ngân hàng mục tiêu.
Kết hợp với hiệu quả ban đầu sau hợp nhất chưa cao sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định. Thách thức sẽ tăng dần khi hoạt động của các NH gặp khó khăn, khả năng trích lập dự phòng thấp dẫn đến tính thanh khoản của NH bị ảnh hưởng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.