CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh ngiệp hoặc xã hội để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất) và hiệu quả xã hội (phản ảnh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định (GS.
Xác định hiệu quả kinh doanh NHTM cần phải thỏa cả khía cạnh kinh tế và xã hội trên. Ở phương diện kinh tế, mục tiêu của NHTM là thu lợi nhuận tối đa với chi phí tối thiểu; về mặt xã hội, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là bộ phận không thể tách rời của hiệu quả tái sản xuất toàn xã hội, là cầu nối cung ứng vốn thúc đẩy doanh nghiệp, hệ thống tài chính và nền kinh tế phát triển, gắn liền lợi ích giữa khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế với nhau. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là xem xét, đo lường quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh. Khi một chiến lược mới được đưa vào thực hiện, nhà quản trị cần phải kiểm tra, phân tích để phát hiện những sai lệch so với kế hoạch, xác định nguyên nhân và đề ra biện pháp xử lý kịp thời, đúng lúc, có hiệu quả.
Phân tích chính xác, khoa học là cơ sở để xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ngân hàng, giúp ngân hàng củng cố chỗ đứng của mình trên thị trường. Phân tích hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ hữu cơ với công tác kế toán, kiểm toán, hoạch định phương hướng của hoạt động ngân hàng. Phân tích hoạt động kinh doanh giúp cho ngân hàng phát hiện các lĩnh vực kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận cao và cũng thông qua việc phân tích này sẽ giúp hạn chế tối thiểu các rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh tiền tệ. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Chỉ tiêu quy mô: Tổng tài sản Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản. Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Tài sản có bao gồm tài sản sinh lời (chiếm từ 80-90% tổng tài sản có) và tài sản không sinh lời (chiếm từ 10-20% tổng tài sản có). Khi nói đến tăng trưởng của tổng tài sản là nói đến qui mô của hoạt động tín dụng và đầu tư.
Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM. Vốn chủ sở hữu (VCSH) Vốn chủ sở hữu là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong ngân hàng, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên. VCSH bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu ban đầu là phần vốn do ngân sách nhà nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTM NN), do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các NHTM CP) bao gồm cổ phần thường và các cổ phần ưu đãi, mức vốn này phải đảm bảo bằng mức vốn pháp định; và vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động. Trên bảng cân đối của NHTM, VCSH bao gồm các khoản mục cơ bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ.
Trong đó, vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. VCSH được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng. Đồng thời, VCSH còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng. VCSH ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM.
Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ. Phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ. Phần còn lại của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng. Tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá: là nguồn huy động vốn chủ yếu của ngân hàng và chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng tài sản nợ; bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn; chứng từ có giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 ngắn hạn (kỳ phiếu hoặc các loại chứng chỉ tiền gửi-thời hạn dưới 1 năm), chứng từ có giá trung dài hạn (trái phiếu, kỳ phiếu.,) Dư nợ tín dụng: là nguồn thu lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng và chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng tài sản có; bao gồm cho vay ngắn, trung và dài hạn, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá cho các tổ chức và cá nhân bằng ngoại tệ hoặc nội tệ (VNĐ).
Chỉ tiêu chất lượng tài sản và an toàn vốn Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay. Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay. Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy chất lượng các khoản tín dụng được cải thiện. Hoặc cũng có thể ngân hàng có chính sách xóa các khoản nợ xấu hay thay đổi các phân loại nợ.
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR - Capital Adequacy Ratio) Bảo đảm an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Để đảm bảo an toàn cho phần tài sản có chứa đựng rủi ro, ngân hàng cần duy trì một mức vốn tự có cần thiết được đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu. Theo quy định của hiệp ước BASEL hệ số an toàn vốn được xác định như sau: Vốn tự có CAR = Tổng tài sản “Có” rủi ro Nếu ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao sẽ cho phép đầu tư vào những lĩnh vực tương đối rủi ro để thoả mãn nhu cầu sinh lời và an toàn. Chỉ tiêu hiệu quả2 Tổng thu nhập từ các hoạt động: thu từ hoạt động kinh doanh (thu từ hoạt động tín dụng, lãi tiền gửi, kinh doanh ngoại hối và vàng, lãi góp vốn, mua cổ phần, bán nợ,.) và thu khác (nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, các khoản vốn đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro, tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng,.) 1 Theo Basel II, CAR đạt tối thiểu là 8%; Theo thông tư 13/2010/TT-NHNN mức tối thiểu CAR là 9%.
2 Trần Huy Hoàng, 2010. Quản trị ngân hàng.Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Lao động và Xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chi phí hoạt động: Chi hoạt động kinh doanh (trả lãi tiền gửi; lãi tiền vay; mua bán cổ phiếu, trái phiếu; mua bán nợ; góp vốn, mua cổ phần; thuê và cho thuê tài sản, Tiền lương, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, dịch vụ mua ngoài,.) và chi khác (nhượng bán, thanh lý tài sản, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế,.) Chi dự phòng rủi ro (DPRR): Dự phòng rủi ro (gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung) là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Vì vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng nguồn vốn của ngân hàng, do vậy nguồn DPRR đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và vững chắc cho hoạt động của ngân hàng, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng chống đỡ rủi ro, khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Dự phòng chung (General provision) được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra, nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể. Dự phòng cụ thể (Specific provision) được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Công thức tính: Dự phòng cụ thể = Tỷ lệ trích lập x (Số dư khoản nợ - Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo) Lợi nhuận trước thuế: khoản lợi nhuận còn lại sau khi lấy tổng thu nhập từ các hoạt động trừ đi chi phí hoạt động và chi dự phòng rủi ro Lợi nhuận thuần của chủ sở hữu: lợi nhuận thực nhận của chủ sở hữu sau khi trừ lợi ích của cổ đông thiểu số. Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE _ Return on equity): Lợi nhuận ròng Hệ số ROE = Vốn chủ sở hữu (Vốn tự có bình quân) ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. Trong đó, vốn tự có cơ bản trung bình gồm vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, các quỹ dự trữ và lợi nhuận không chia. Việc ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng nguồn vốn. Việc huy động quá nhiều có thể ảnh hưởng đến độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA: Return on asset): Lợi nhuận ròng Hệ số ROA = Tổng tài sản (Tài sản có bình quân) ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.