lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về hiệu quả huy động vốn của NHTM Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả huy động vốn của NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Ba Đình. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Ba Đình 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các NHTM phải đảm bảo phát triển mạnh mẽ 5 yếu tố: Vốn, công nghệ tiên tiến, chiến lược phát triển, quản trị hệ thống và phát triển dịch vụ.
Trong đó, vốn là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Trên thực tế hiện nay ở các NHTM vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, còn lại chủ yếu là vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Do vậy, huy động vốn là điều kiện đầu tiên, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng và thực tế cho thấy cạnh tranh trên lĩnh vực này chính là cuộc cạnh tranh gay gắt và nóng bỏng nhất giữa các NHTM. Từ thực tiễn đó mà vấn đề về vốn và huy động vốn tại các NHTM được nhiều tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số vấn đề khoa học, các công trình nghiên cứu sinh tiêu biểu như: Nguyễn Văn Định, 2013.
Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả nêu lên khái niệm về hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại. Nhưng các vấn đề tác giả nêu và đánh giá quá rộng và dàn trải, do đó, khó có tính thực tiễn cao.
Nguyễn Thùy Giang, 2014. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả mua bán vốn nội bộ tại Ngân hàng Quốc tế. Luận văn thạc sĩ, Học viện ngân hàng. Tác giả của công trình này đã tập trung đề cập đến vấn đề hiệu quả mua bán vốn tại Ngân hàng Quốc tế chủ yếu trong giai đoạn năm 2012-2014.
Mặc dù mua bán vốn nội bộ là một nội dung trong hoạt động huy động vốn của NHTM nhưng bên cạnh đó còn có nhiều vấn đề khác có liên quan đến NHTM chưa được đề cập trong nghiên cứu này. 4 Nguyễn Minh Tiến, 2015. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng. Luận văn thạc sĩ, Trường Học viện Ngân hàng.
Trong luận văn, tác giả đã nêu được nổi bật các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, từ đó, đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, nhưng một số giải pháp tác giả đưa ra còn chung chung, khó áp dụng được vào thực tế. Vũ Thị Kim Oanh, 2015. Huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN.
Tác giả đã hệ thống hóa vấn đề có tính chất lý luận cơ bản về huy động vốn của NHTM. Phân tích thực trạng huy động vốn của Ngân hàng TMCP Hàng Hải – Chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn năm 2009-2012. Trong nghiên cứu này tác giả cũng chỉ ra được những thành công và những mặt hạn chế còn tồn tại trong quá trình huy động vốn tại ngân hàng này, từ đó đưa ra được những đề xuất về giải pháp và có những kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả HĐV trong thời gian tới. Nguyễn Minh Nguyệt, 2016.
Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Trong luận văn tác giả trình bày những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng bao gồm quy mô huy động vốn, năng suấ t huy động vốn, tỷ lệ vốn huy động so với tổng vốn, các yếu tố tác động tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng bao gồm yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, tuy nhiên, các chỉ tiêu này tác giả mới chỉ đánh giá sơ sài và chủ yếu là lý thuyết nên luận văn không có tính khả thi về mặt giải pháp ứng dụng vào trong thực tiễn. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, đề tài về huy động vốn tại NHTM đã được rất nhiều tác giả quan tâm và chọn làm đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn khác nhau, các ngân hàng khác nhau lại có những kết quả kinh doanh khác nhau với những chiến lược kinh doanh riêng có của mình để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đất nước nói chung và tại địa bàn nói riêng. Một vấn đề đặt ra hiện nay là phải nghiên cứu khung khổ lý thuyết về hoạt 5 động huy động vốn, áp dụng nó vào thực tiễn hoạt động của hệ thống của NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội nói chung và chi nhánh Ba Đình nói riêng, phân tích những điểm mạnh cũng như điểm yếu trong hoạt động này để có định hướng phát triển bền vững trong thời gian tới. Vì vậy, vấn đề " Hoạt động huy động vốn tại của NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Ba Đình " đã được tác giả lựa chọn làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình. Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại 1.
Tổng quan về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, tổng tài sản có của ngân hàng thương mại luôn luôn có khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Mặt khác, khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Hoạt động của NHTM rất đa dạng, các thao tác nghiệp vụ lại khá phức tạp và luôn biến động theo từng nhịp của nền kinh tế dẫn tới khi đề cập đến khái niệm Ngân hàng thương mại ở mỗi quốc gia lại có những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất coi: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ở Việt Nam, tại điều 4.3 Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 cho rằng “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh 6 doanh khác. Với chức năng trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn, do đó, nguồn vốn và các hoạt động về vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của các NHTM. Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh.
Tuy chỉ chiếm khoảng 5% trong tổng nguồn vốn nhưng vốn chủ sở hữu có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng và là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Vì đây là nguồn vốn ổn định, nên một mặt ngân hàng chủ động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt khác lại được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng trong trường hợp ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Hơn nữa nó là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng. Căn cứ theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ban hành ngày 20 tháng 5 năm 2010 thì vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm: Vốn cấp 1 gồm: Vốn điều lệ (số vốn đã được thực cấp, thực góp); quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; lợi nhuận không chia; thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có).
Do đó, có thể thấy đây là nguồn vốn tương đối ổn định của các NHTM. Vốn cấp 2: Đây là nguồn vốn có tính ổn định thấp và phụ thuộc nhiều vào quy mô của nguồn vốn chủ sở hữu cơ bản bởi nguồn vốn cấp 2 được hình thành từ các nguồn sau: 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật. 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật. 7 Quỹ dự phòng tài chính Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật Các công cụ nợ khác thỏa mãn điều kiện theo quy định của pháp luật Vốn huy động: Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM, vì vậy các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng tồn tại và phát triển được là nhờ nguồn vốn huy động này.
Ngân hàng có thể huy động vốn từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân trong xã hội thông qua các hình thức khác nhau: Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch) Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng.