phần mở đầu và phần kết luận, đề tài bao gồm 3 chương: Chƣơng I: Những vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 Chƣơng II: Phân tích tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Dương giai đoạn 2012-2014. Chƣơng III: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Dương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6 CHƢƠNG I NHỮNG VẦN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại (NHTM) NHTM được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Chức năng của ngân hàng thƣơng mại - Chức năng trung gian tài chính NHTM là cầu nối giữa cung vốn và cầu vốn. Nó tập trung những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tài trợ lại cho nền kinh tế.
NHTM với vai trò là trung gian tài chính đứng ra tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn trong các doanh nghiệp của nền kinh tế, đã góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn. Trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, khuyến khích đầu tư. - Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá dịch vụ, thu hộ tiền, thanh toán hộ khách hàng.
Quá trình lưu thông chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán không giống như tiền giấy được chuyển từ tay người này thực sự sang tay người khác mà chính là đồng tiền ghi sổ, góp phần thích ứng với các nhu cầu giao dịch. Hiện nay, các loại phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, L/C, thẻ thanh toán, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử. Các trung tâm thanh toán không chỉ trong phạm vi quốc gia mà vươn ra tầm quốc tế đã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 7 làm tăng tính hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế. - Chức năng tạo tiền Khi Ngân hàng thực hiện chức năng thứ nhất và thứ hai cũng là đang thực hiện chức năng tạo tiền.
Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống Ngân hàng trung ương (NHTW) của mỗi nước. Đó là khả năng biến tiền gửi ban đầu tại một Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều Ngân hàng. Khi Ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Hơn nữa, toàn bộ hệ thống Ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Vai trò của ngân hàng thƣơng mại - Vai trò thực thi chính sách tiền tệ Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương, để thực thi chính sách tiền tệ đó phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở, hạn mức tín dụng…Chính các NHTM là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế. Ngược lại, cũng qua NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, tổng cung tiền tệ, lãi suất, tỷ giá… của nền kinh tế được phản hồi về cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để Chính phủ và NHNN có những chính sách điều tiết thích hợp với tình hình cụ thể. - Vai trò góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô Chính sách tiền tệ là công cụ để NHNN can thiệp vào nền kinh tế, dựa trên bản thân cơ chế thị trường và các quy luật vận động của nó. Nhưng Ngân hàng Nhà nước không trực tiếp giao dịch với công chúng, do đó phải dựa vào thông tin phản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 8 hồi từ các định chế tài chính trung gian để làm căn cứ soạn thảo chính sách tiền tệ.
Như vậy, rõ ràng là nếu không có hệ thống NHTM hoàn chỉnh, không có thông tin phản hồi do hệ thống NHTM cung cấp, thì việc hoạch định chiến lược và soạn thảo chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước sẽ không hoàn hảo. Chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ NHNN lan ra đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính trong nước. Như vậy, nếu không có sự chấp hành của hệ thống NHTM thì chính sách tiền tệ của NHNN sẽ không thực hiện được. KHÁI QUÁT VÀ PHÂN LOẠI VỐN NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Nguồn vốn của NHTM đa dạng và phong phú, xuất phát từ nhiều nguồn và tồn tại dưới những hình thức khác nhau.
Mỗi nguồn có những đặc trưng, ưu nhược điểm riêng. Chính vì thế, việc phân tích cơ cấu nguồn vốn của NHTM rất quan trọng đối với nhà quản trị ngân hàng nhằm đánh giá chi phí, tính ổn định và khả năng huy động vốn của ngân hàng. Vai trò của nguồn vốn NHTM *Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Trong suốt quá trình vận hành của mình, nền kinh tế luôn xảy ra tình trạng có nơi thừa vốn và cũng có nơi thiếu vốn.
Với chức năng của mình, thông qua huy động vốn, hệ thống ngân hàng đã tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của xã hội và giúp những nơi thiếu vốn tiếp cận được nguồn vốn. *Đối với ngân hàng Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Với đặc trưng của hoạt động Ngân hàng, vốn là đối tượng kinh doanh chính và chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ.
Chính vì vậy có thể nói: Vốn là điểm xuất phát trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động. - Vốn quyết định qui mô tín dụng và các hoạt động khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 9 Tùy thuộc vào qui mô và cơ cấu nguồn vốn huy động được mà các Ngân hàng sẽ quyết định qui mô và cơ cấu đầu tư.
Với nguồn vốn huy động lớn, ngân hàng có đủ khả năng mở rộng phạm vi và khối lượng cho vay không chỉ giới hạn trên thị trường trong nước mà còn trên cả thị trường nước ngoài. Ngược lại, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không có phản ứng nhanh nhạy trước sự biến động của lãi suất, ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư. Nói chung, một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu vay của khách hàng, dễ dàng mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng. -Vốn quyết định năng lực thanh toán và bảo đảm uy tín của Ngân hàng trên thị trường tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và mở rộng qui mô hoạt động, đòi hỏi các Ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu. Khả năng thanh toán của Ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của Ngân hàng càng lớn. Để đảm bảo được các điều kiện trên, Ngân hàng phải có nguồn vốn thỏa mãn cả hai yêu cầu là chất lượng và khối lượng.
Vì vậy, để nguồn vốn huy động sử dụng có hiệu quả thì trong kinh doanh Ngân hàng cần phải mở rộng qui mô tín dụng, đồng thời phải nâng cao chất lượng tín dụng. - Vốn quyết định đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng. Nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về qui mô, khối lượng, thời gian và thời hạn cho vay. Đặc biệt ngày nay sự xuất hiện hàng loạt các Tổ chức Tín dụng đã làm cho tình hình cạnh tranh giữa các Ngân hàng càng gay gắt.
Với nguồn vốn dồi dào, Ngân hàng sẽ chủ động ra các mức lãi suất cho vay một cách hợp lý để thu hút khách hàng nhằm mở rộng và nâng cao qui mô, nâng cao chất lượng tín dụng. Với năng lực tài chính vững mạnh, ngân hàng sẽ dễ dàng chủ động về các mức lãi suất huy động và cho vay theo kế hoạch của mình. *Đối với ngƣời gửi tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 10 Thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM đã cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm mục đích sinh lời cho đồng tiền họ đang nắm giữ. Là nơi an toàn để cất giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi.
Có thể nói rằng gửi tiền qua ngân hàng là kênh đầu tư ít rủi ro nhất. Phân loại nguồn vốn ngân hàng thƣơng mại 1. Vốn chủ sở hữu Điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho phép đi vào hoạt động là phải có vốn chủ sở hữu. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài trong quá trình hoạt động của mình.
Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số nguồn vốn khác của ngân hàng theo quy định của ngân hàng Trung Ương. a) Vốn điều lệ Là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ của ngân hàng là do các chủ sở hữu ngân hàng đóng góp.