CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động huy động vốn của NHTM 1. Khái quát về NHTM 1. Khái niệm về NHTM Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ: Ngân hàng Thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng Thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998, NHTM được định nghĩa như sau: Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương Mại a. Sự ra đời Tại Ai cập thế kỷ 18 trước công nguyên, Hy Lạp và La Mã thế kỉ 4 trước Công nguyên, người dân gửi tài sản vào các nhà thờ, nhà thờ giao “ giấy biên nhận ”. Người giữ giấy này khi cần có thể đem cầm cho người khác để nhận thứ 7 mình cần dẫn đến xuất hiện các hành vi sơ khai của hoạt động NH. Pythius ( Hy Lạp) được xem là người sáng lập NH đầu tiên vào thế kỉ 5 trước Công nguyên.
Đến thế kỉ 15, đã xuất hiện những tổ chức kinh doanh tiền tệ có những đặt trưng gần giống NH, đầu tiên gồm NH Amstexdam ( Hà Lan năm 1960), Ham Bourg (Đức năm 1619) và Bank of England (Anh năm 1694). Các giai đoạn phát triển Từ thế kỉ 15 đến nay, ngành NH đã trải qua những bước tiến dài và góp nhiều phát minh vĩ đại vào lịch sử phát triển của loài người, có thể chia ra các giai đoạn phát triển thanh 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: (Từ thế kỉ 15 đến cuối thế kỉ 18). Hoạt động của những giai đoạn này có nhưng đặt trưng sau: - Các NH hoạt động một cách độc lập, chưa hình thành một hệ thống NH chịu sự ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. - Chức năng hoạt động của mỗi NH giống nhau, gồm nhận ký thác của khách hàng, chiết khấu và cho vay, phát hành giấy bạc vào lưu thông, thực hiện các dịch vụ tiền tệ khác như đổi tiền, chuyển tiền.
NH phát hành vẫn thuộc sở hữu tư nhân không cho nhà nước can thiệp thường xuyên vào các hoạt động kinh tế thông qua các tác động của nền kinh tế, các nước đã quốc hữu hóa hàng loạt các NH phát hành từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến năm 1933. Khái niệm NH trung ương đã thay thế cho NH phát hành với chức năng rộng hơn ngoài nghiệp vụ phát hành và quản lý nhà nước về tiền tệ, góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM a. Nghiệp vụ TS nợ - huy động vốn Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ huy động vốn, tạo nguồn vốn khinh doanh cho ngân hàng thương mại.
Hoạt động huy động vốn được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốn của ngân hangg thương mại. Nguồn vón của ngân hàng thương mại bao gồm: Vốn tự có của NH Theo quy định của NHNN Việt Nam, vốn tự có của một NH bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia, lợi nhuận chưa chia, các quỹ và nợ dài hạn. Vốn tự có là vốn riêng của NHTM, là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của NH. Vốn này tuy chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM (thông thường từ 8% đến 10%) song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một NH.
Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như là TS đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp NH gặp thua lỗ. Vốn tự có cũng là căn cứ để tính toán các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động NH. Trong thực tế, vốn tự có không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân NH mang lại. Bộ phận vốn nay đóng góp một phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời góp phần vào nâng cao vị thế của NHTM trên thương trường.
Như vậy, vốn tự có là nguồn ổn định, NH sử dụng một cách chủ động. Do đó vấn đề đặt ra là NH phải bảo toàn và không ngừng tăng vốn tự có của mình theo yêu cầu của sự phát triển hoạt động kinh doanh theo đúng chính sách, chế độ. Đồng thời phải sử dụng vào các mục đích đã định. Nguồn vốn huy động Là những giá trị tiền tệ mà NH huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Vốn huy động là công cụ chính đối với các hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NH 9 và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH. Mặt dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của NH được tăng lên mà cồn tạo cho NH uy tín càng cao. Qua đó NH có thể mở rộng được vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của NH.
Nguồn vốn huy động bao gồm: Huy động tiền gửi: Đây là nguồn vốn huy động thường xuyên của NH. Huy động thông qua việc phát hành giấy tờ có giá, kỳ phiếu, trái phiếu. Đi vay: Thực hiện vay vốn ngắn hạn tại NHNN, ở các NH và các tổ chức tín dụng khác. Vốn tiếp nhận Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định.
Vốn khác Là nguồn vốn phát sinh trong hoạt động của NH. Trong quá trình là trung gian thanh toán, các NHTM cũng tạo được một khoảng gọi là vốn trong thanh toán: Vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoảng tiền gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong tỏa do NH chấp nhận các hối phiếu thương mại.Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tài khoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên tạm thời coi là tiền nhàn rỗi. Thông qua nghiệp vụ đại lý, NH thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư. Do đó NH có thể sử dụng tạm thời những tài khoản đó vào kinh doanh.
Để mở rộng nghiệp vụ này các NHTM cần chú trọng đến phát triển các dịch vụ và không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thương trường. Nghiệp vụ tài sản có - sử dụng vốn Nghiệp vụ tài sản có của ngân hang thương mại bao gồm các nghiệp vụ lien quan đến việc sử dụng các khoản vốn huy động được từ nghiệp vụ tài sản nợ. Thành phần tài sản Có của ngân hàng bao gồm: Nghiệp vụ ngân quỹ Tài sản ngân quỹ của NH bao gồm: lượng tiền mặt, tiền gửi giao dịch, tiền gửi pháp định của NHNN và tiền gửi khác, hoạt động của NH là xác định tỉ lệ ngân quỹ so với tổng nguồn vốn cho phù hợp nhằm đảm bảo tính an toàn cho khách hàng và không lãng phí vốn. Những khoản này gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN (dự trữ bắt buộc và tiền gửi đảm bảo khả năng thanh toán), các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Nghiệp vụ cho vay Đây là nghiệp vụ sử dụng lượng vốn lớn nhất và tạo lợi nhuận nhiều nhất cho NH. Mục tiêu của nghiệp vụ cho vay là sinh lời. Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ.
Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,. Nghiệp vụ đầu tư Là nghiệp vụ mà ngân hang thương mại dùng vốn của mình mua các chứng khoán (các chứng khoán chunhs chủ và một số chứng khoán công ty lớn-luật của Mỹ không cho phép ngân hang được phép nắm giữ cổ phiếu) hoặc đầu tư theo dự án. Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng còn cho phép các ngân hang được dung vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hay của các tổ chức tín dụng khác.
Những tài sản có khác 11 Đó là những vốn hiện vật như trụ sở làm việc, máy móc, trang thiết bị dung cho hoạt động do ngân hàng sở hữu. Các hình thức huy động vốn của NHTM 1. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi a. Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán.
Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Để thực hiện nghiệp vụ thanh toán này, đòi hỏi khách hàng phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng.