Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Đắk Lắk. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Đắk Lắk. Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS, TS Nguyễn Đăng Dờn người trực tiếp hướng dẫn em cũng như các cô chú, anh chị tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk đã giúp đỡ, hướng dẫn chỉ bảo tận tình để em hoàn thành luận văn này.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại.1 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về vốn của Ngân hàng thương mại Nước ta cũng như bất kỳ nước nào trên thế giới, muốn thực hiện CNH - HĐH thì cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện CNH - HĐH. Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để đầu tư cho vay, hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh khác của mình.2 Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Trong hoạt động kinh doanh, tuỳ thuộc vào tính chất, yêu cầu quản lý hay nguồn hình thành mà người ta chia nguồn vốn theo các loại khác nhau. Về cơ bản nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của NHTM là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có mà ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau: Phục vụ cho ngân hàng, cho vay cũng như tham gia đầu tư góp vốn liên doanh.
Vốn chủ sở hữu còn được coi là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm: - Vốn điều lệ: Vốn điều lệ của NHTM là vốn do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng. Cũng theo quy định này, để đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế thị trường cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các Ngân hàng hoạt động kinh doanh thì vốn điều lệ của ngân hàng phải luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định và có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau tùy thuộc vào hình thức sở hữu. Ví dụ: Đối với các NHTM cổ phần, vốn điều lệ và vốn do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu; đối với các NHTM Nhà nước, vốn điều lệ là vốn ban đầu do ngân sách cấp.
- Vốn chủ sở hữu bổ sung trong quá trình hoạt động: Vốn chủ sở hữu của NHTM có thể gia tăng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện hoạt động kinh doanh cụ thể của NHTM đó, bao gồm: Nguồn bổ sung từ lợi nhuận, nguồn bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần góp thêm, cấp thêm để mở rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn chủ do NHNN quy định. Đặc điểm của hình thức HĐV này là không thường xuyên, song giúp cho NHTM có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết. - Các quỹ: NHTM có nhiều các quỹ khác nhau, mỗi quỹ được sử dụng cho những mục đích nhất định tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của NHTM. Các quỹ này được hình thành từ thu nhập của ngân hàng, bao gồm: Quỹ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng bù đắp rủi ro.
- Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung và dài hạn của NHTM mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu của Ngân hàng do nguồn này có một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ lệ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của một NHTM, thông thường tỷ lệ này là 70 - 80%. Vốn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của NHTM, ngân hàng có quyền sử dụng tạm thời nguồn vốn này, nhưng nó lại là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn huy động của NHTM được xem là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và được dùng làm vốn kinh doanh.
Nguồn vốn huy động có nhiều hình thức huy động khác nhau. Nguồn vốn vay từ trung ương: Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại dưới nhiều hình thức như: cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các giấy tờ có giá trị của ngân hàng thương mại. Vốn hình thành từ nguồn này đảm bảo cho khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống: Các ngân hàng thương mại có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh trong cùng một hệ thống.
Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa bàn có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó nó tác động đến nguồn vốn và khả năng sử dụng của từng chi nhánh. Vốn khác: Ngoài các nguồn vốn trên, NHTM còn có thể tạo lập vốn kinh doanh cho mình thông qua việc thực hiện một số nghiệp vụ như: Làm trung gian thanh toán, làm nghiệp vụ đại lý, phát hành các công cụ nợ như: Kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trường vốn. Tóm lại, vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM. Điều này hoàn toàn phù hợp về mặt cơ sở lý luận vì NHTM luôn được xem là doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, lấy vốn đi vay để cho vay.
Vốn huy động là công cụ chính, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, quyết định trực tiếp tới những nguồn lợi cũng như uy tín của ngân hàng.2 Nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về huy động vốn Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài chính lại được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trước tiên là vốn. Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của ngân hàng được hình thành qua các nguồn khác nhau. Để bắt đầu hoạt động của ngân hàng thì chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, được gọi là vốn ban đầu. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng khối lượng vốn của mình thông qua các hoạt động huy động vốn như nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ đi vay và các nghiệp vụ khác: dịch vụ uỷ thác, trung gian thanh toán… (Nguồn http://voer. Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nghiệp vụ trung gian khác.Vốn huy động là nguồn vốn mà ngân hàng có thể chủ động tìm kiếm hoặc bị động trong việc tạo nguồn.
Vốn được huy động chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thường ở mức 70 – 80%, đây chính là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng và cũng là nguồn mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng thông qua các công cụ tài chính với mức lãi suất khác nhau, thời hạn hoàn trả khác nhau để có thể huy động tới mức tối đa nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng. Các NHTM phải làm sao thu hút được nhiều tiền của người tiêu dùng và các doanh nghiệp dù ngân hàng phải trả lãi cho loại tiền gửi này song việc thu hút nhanh và biết sử dụng vẫn mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng. Bản chất của huy động vốn là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn để chi trả trước hạn.
Vì vậy ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào hoạt động kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng. Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác… Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại, nó đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu chúng.