lời mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục,tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về huy động vốn củangân hàng thƣơng mại. Chƣơng”2: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam chi nhánh”Hà Tây. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Tây. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề chung về ngân hàng thƣơng mại 1. Quan niệm ngân hàng thương mại Lịch sử”phát triển của ngân hàng gắn với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Qua hàng trăm năm, hoạt động của ngân hàng thƣơng mại đã trở thành một”nhân”tố không thể thiếu gắn với nền kinh tế của mọi quốc gia trên”toàn thế giới. ”Một định nghĩa về ngân hàng thƣơng mại phải dựa vào tính chất”và”mục đích hoạt động của nó trên thị trƣờng tài chính, và còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tƣợng hoạt động.
Mỗi quốc gia khác nhau hình thành”nên một khái niệm khác nhau về ngân hàng thƣơng mại. ”Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: Những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm. Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính” Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010: NHTM”là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. ” Nhận định trên cho thấy”ngân hàng thƣơng mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác thoả mãn nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. ”NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt là vì”hoạt động NHTM là kinh doanh có độ rủi ro cao 7 hơn nhiều so với các hình”thức kinh doanh khác và thƣờng có ảnh hƣởng sâu sắc tới cả nền kinh tế. Hoạt động ngân hàng mà chủ yếu là hoạt động kinh doanh tiền tệ, các NHTM tiến hành huy động vốn rồi cho vay theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định nên không tránh đƣợc rủi ro. Rủi ro có thể đến từ phía ngân hàng, từ phía khách hàng vay tiền rủi ro khách quan.
Do đó, hoạt động ngân hàng thƣờng phải đối mặt với độ rủi ro cao, kéo theo là rủi ro với ngƣời gửi tiền cũng nhƣ là rủi ro đối với nền kinh tế. Để giảm những rủi ro xảy ra nhằm kiểm soát, hạn chế những tổn hại do ngân hàng phá sản gây ra Chính phủ các nƣớc đặt ra những quy định riêng, nhằm đảm bảo các hoạt động này đƣợc an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế thị trƣờng. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng có vai trò lớn trong việc điều hoà và”cấp vốn cho nền kinh tế. Sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay”làm cho”ngân hàng đã có những bƣớc tiến rất nhanh, ”vừa đa dạng và phong phú hơn nhƣng vẫn duy trì các hoạt động cơ bản sau: 1.
Hoạt động huy động vốn ”Là nghiệp vụ cơ bản ảnh hƣởng tới hoạt động của ngân hàng.Vốn đƣợc huy động theo nhiều hình thức khác nhau nhƣ huy động dƣới hình thức”huy động”tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Trên cơ sở vốn huy động đƣợc ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất, cho các ”hƣớng”phát triển kinh tế của địa phƣơng và cả nƣớc. Huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín của ngân hàng ngày càng”lớn và”ngân hàng chủ động trong kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với”nhiều”thành phần kinh tế và các tổ chức dân cƣ, mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng” Vì vậy mà”các ngân hàng thƣơng mại phải căn cứ vào chiến lƣợc, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nƣớc và của từng vùng. Từ đó đƣa ra các hình thức huy động vốn phù hợp, cho các nguồn vốn trung, dài hạn để cung cấp”vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.
Hoạt động sử dụng vốn ”Là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ”tăng”uy tín của ngân hàng quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trƣờng. Do”đó”ngân hàng cần phải đƣa ra chiến lƣợc sử dụng vốn của mình sao cho”hiệu quả nhất. * Cho vay Là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn cho các mục đích nhằm bảo đảm an toàn cũng nhƣ mang lại lợi nhuận cho các NHTM. Có khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là đến từ các hoạt động cho vay gồm: Cho vay ngắn hạn: Giúp giải quyết vấn đề”thiếu hụt vốn tạm thời trong kinh doanh của khách hàng”và cho vay ngắn hạn đầu tƣ vào tài sản lƣu động Cho vay trung - dài hạn: với hình thức này tiền vay sẽ đƣợc đầu tƣ vào vào tài sản cố định.
”Có thể nhận trực tiếp bằng tiền hoặc cho vay qua”mua sắm tài sản bằng nghiệp vụ cho thuê tài chính. Hoạt động cho vay này mang lại lợi nhuận chính cho các NHTM, nhƣng đồng thời cũng đem đến rủi ro rất cao, vì vậy các ngân hàng luôn giám sát kỹ lƣỡng tới từng món vay và từng khách hàng. Chính sách cho vay mang lại kết quả cho tín dụng và quyết định một ngân hàng thanh công hay thất bại * Đầu tƣ Trong quá trình phát triển, đẩy mạnh CNH - HĐH thì nhu cầu đầu tƣ trong xã hội không ngừng tăng lên, nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất kinh doanh. Các NHTM cần”đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ nguồn vốn cho nền kinh tế, ”bên cạnh hình thức là cho vay thì ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tƣ dƣới 2 hình thức chủ yếu mà là: ”Đầu tƣ góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác”hoặc đầu tƣ cho vay kinh doanh chứng khoán.
”Đầu tƣ vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong quá trình hoạt động của mình, NHTM luôn tìm kiếm mục tiêu lợi 9 nhuận. Tuy nhiên, một trong những đòi hỏi bắt buộc là phải đảm bảo tính an toàn. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đầy mạo hiểm chứa đựng nhiều rủi ro.
Do đó, trong hoạt động kinh doanh của mình ngân hàng luôn đòi hỏi sự an toàn. Vì thế, bên cạnh việc cho vay và để thu đƣợc lợi nhuận trong hoạt động đầu tƣ, các NHTM còn phải trích dự phòng rủi ro để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng trung ƣơng đề ra. Hoạt động khác Ngân hàng”là trung gian tài chính có rất nhiều lợi thế. Những lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng”để”thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ.
Để”giúp cho”thanh toán nhanh chóng và tiết kiệm chi phí, ngân hàng”giúp cho khách hàng có”nhiều hình thức thanh toán nhƣ toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ …mạng lƣới thanh toán điện tử, ”và cung cấp tiền giấy khi khách hàng có. Ngoài ra, ”các ngân hàng thƣơng mại còn làm đại lý chứng khoán cho các công ty”và”môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác cho vay, đầu tƣ, cấp phát, giải ngân và thu hộ… ” ”Nhƣ vậy, các hoạt động của ngân hàng nói trên nếu thực hiện tốt sẽ giúp cho ngân hàng phát triển vững mạnh giữa cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay. Các nghiệp vụ trên có mối liên hệ rất chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau.
Nguồn vốn huy động có ảnh hƣởng tới sử dụng vốn, cũng nhƣ nhu cầu về vốn ảnh hƣởng tới quy mô và cơ cấu của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian giúp tăng thêm thu nhập cho ngân hàng nhƣng với mục đích chủ yếu là thu hút khách. Các nguồn vốn của ngân hàngthương mại - Nguồn vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm vốn điều lệ,các quỹ dự trữ và các quỹ khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. ”Vốn điều lệ: chính là vốn đầu tƣ khi thành lập ngân hàng và đƣợc ghi trong điều lệ của ngân hàng.
Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định do NHTW NHNN công bố vào đầu năm tài chính. Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn điều lệ có khác nhau. Nếu ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nƣớc thì do 10 Ngân sách Nhà nƣớc cấp vốn. Nếu là NHTM cổ phần thì do cổ đông đóng góp qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu.
Ngân hàng liên doanh thì bên liên doanh góp vốn, ngân hàng tƣ nhân là vốn của tƣ nhân và do tƣ nhân bỏ ra. ” Mức vốn điều lệ đƣợc bổ sung, điều chỉnh phụ thuộc vào quy mô và hoạt động của ngân hàng trong từng thời kỳ cũng nhƣ mức thu nhập của ngân hàng. Trong khi thu nhập ròng của ngân hàng lớn, các ngân hàng có xu hƣớng gia tăng VCSH bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tƣ. VCSH còn đƣợc bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần hoặc đƣợc cấp thêm để phát triển quy mô hoạt động hoặc để thay thế mới trang thiết bị, công nghệ, hoặc để đáp ứng gia tăng VCSH do Nhà nƣớc quy định.
Đây là nguồn không thƣờng xuyên song nó giúp cho ngân hàng có đƣợc lƣợng VCSH vào lúc cần. Bên cạnh đó còn có các nguồn vay nợ cũng có thể chuyển thành cổ phần, nhƣ các khoản cho vay trung dài hạn của NHTM có thể chuyển thành cổ phần có thể xem là VCSH của ngân hàng bổ sung do nguồn này có đặc điểm nhƣ sử dụng lâu dài, có thể đầu tƣ vào đất đai hay nhà cửa và khi đến hạn có thể không phải hoàn trả. Qua nguồn gốc hình thành vốn chủ sở hữu ta thấy nguồn vốn này ít biến động và sự biến động của nó phụ thuộc rất nhiều vào hình thức sở hữu của ngân hàng cũng nhƣ cơ chế thiết lập các quỹ của ngân hàng.