CHƯƠNG 1: TONG QUAN HUY DONG VON TIEN GUI CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Khái niệm tiền gửi va vai trò của hoạt động huy động tiền gửi đối với ngân hàng thương mại.1 Khái niệm “Ngân hàng là tô chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh đề tìm và đành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã phải trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dung trước mắt, và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời đề kinh doanh.” Trích giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tiền gửi ngân hàng là tiền được gửi trong các tài khoản ở ngân hàng (theo nghĩa đơn giản). Trên thực tế, nó chính là số liệu về khoản nợ của một ngân hàng đối với người gửi tiền. Tiền gửi là tiền mà ngân hàng nhận được từ khách hàng bất luận dưới hình thức nào, dù có phải trả lãi hay không phải trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của minh và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh trả tiền của người gửi tiền băng séc, lệnh chuyên khoản hay thư tín dụng. hay bat kỳ dưới hình thức nào khác.
Theo Điều 13 Luật các TCTD số 47/2010/QH12: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Khách hàng gửi tiền có thể linh hoạt lựa chọn các loại hình tiền gửi phù hợp theo mục đích gửi tiền và được hưởng lãi suất thõa thuận cũng như các dịch vụ do ngân hàng cung cấp. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng được phép sử dụng khoản tiền gửi này sau khi đã trích lập dự phòng cho hoạt động kinh doanh.2 Vai trò của hoạt động huy động vốn tiền gửi Đối với KH, việc gửi tiền vào ngân hàng ngoài đảm bảo tính an toàn cho tài sản mà bên cạnh đó còn được ngân hàng cung cấp những dich vụ thuận tiện trong việc chi trả, thanh toán một cách nhanh chóng và không mất nhiều công sức mà còn thu về một khoản lãi nhất định. KH là các tổ chức tài chính sẽ được đáp ứng các dịch vụ như ngân quỹ, thu chỉ an toàn và thuận tiện.
Với KH là các tầng lớp dân cư, việc gửi tiền tại các NHTM sẽ được ngân hàng cung cấp các dịch vụ về séc thuận tiện chỉ trả, ngoài ra là các dịch vụ về thẻ hiện đại. Đối với các NHTM, vốn tiền gửi là nền tảng thê hiện sự phát triển, quyết định quy mô hoạt động kinh doanh cũng như năng lực thanh toán. Sau khi huy động tiền gửi, ngân hàng sẽ phải duy trì dự trữ bắt buộc vàngân hàng có thể đem cho vay hoặc đầu tư phần tiền gửi còn lại. Nguồn vốn huy động được của ngân hàng càng dồi dào sẽ đáp ứng nhu cầu cho vay lớn, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngân hàng huy động tiền gửi và cho vay với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng đề đánh giá sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra, nhìn vào khoản mục này trên bảng cân đối kế toán có thê đánh giá được tiềm năng về vốn của ngân hàng, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của ngân hàng trên thị trường.3 Các loại hình tiền gửi 1.1 Tiền gửi không kì hạn Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi được ký thác vào ngân hàng để thực hiện các khoản chỉ trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đây không phải là tiền dé dành nhằm mục tiêu sinh lời mà là một bộ phận tiền đang chờ thanh toán do vậy khách hàng gửi tiền không mat quyền sử dụng số tiền này. KH có thé rút ra dé chi tiêu hoặc chuyền nhượng bat kì lúc nào.
Tiền gửi thanh toán có lãi suất rất thấp hoặc bằng không được coi như nguồn rẻ đối với ngân hàng. Tuy nhiên nguồn này kém ồn định, áp lực thanh khoản cao, biểu hiện vòng quay của tiền gửi thanh toán rất cao. Do vậy, nguồn này chủ yếu dé đảm bảo dự trữ và cho vay ngăn hạn trên thị trường liên ngân hang. Các ngân hàng lớn, đô thị thường có tỉ lệ tiền gửi thanh toán cao hơn ngân hàng nhỏ, nông thôn.
Ở ngân hàng có 2 loại tài khoản dùng đề thể hiện tiền gửi thanh toán. Thứ nhất là tài khoản tiền gửi thanh toán ( tài khoản sec hoặc tài khoản giao dịch ) tài khoản này khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vị tiền gửi của mình. Thứ 2 là tài khoản vãng lai, tài khoản này cho phép KH sử dụng không chỉ tiền gửi của mình mà còn có thể dùng tiền do ngân hàng cho vay theo sự thỏa thuận. Trong việc sử dụng tiền gửi thanh toán này, KH có thể sử dụng các công cụ dé chi trả như sec hay lệnh chuyên tiền.
Tiền gửi không kì hạn thuần túy: mục đích của KH khi gửi tiền không kì hạn thuần túy là dé đảm bảo an toàn cho tài sản chứ không phải với mục đích thanh toán. Day là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền nhàn dỗi của KH, khi cần, KH có thé đến ngân hàng dé rút. Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này bang bằng với các loại tiền gửi không ki hạn khác. Loại tiền gửi này cho chỉ phí đầu vào thấp nên chiếm một vị trí khá quan trọng trong cơ cau vốn ở các nước phát triển.
Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, nền kinh tế và thị trường không 6n định nên ngân hàng phải có kế hoạch nghiên cứu kĩ lưỡng, khai thác nguồn tiền gửi này một cách hợp lý vì KH có thể rút tiền ra bất kì lúc nào, dẫn đến NH dễ gặp rủi ro trong vấn đề thanh khoản. Tiền gửi có kì hạn Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền được các cá nhân, tô chức kinh tế gửi vào ngân hàng và được thỏa thuận thời gian rút cũng như mức lãi suất theo quy định. Tiên gửi tiét kiệm: là khoản tiên nhàn roi của KH cá nhân được KH đem vào gửi tại các NHTM bên cạnh mục đích an toàn còn là mục dich sinh lợi. Hop đồng tiền gửi: Đây là khoản tiền gửi có kì hạn được các doanh nghiệp, tô chức kinh tế gửi vào NHTM, NHTM sé làm hợp dong tiền gửi cho khoản tiền này và sẽ trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Ngân hàng có thé sử dụng phần lớn số dư của loại tiền này sau khi đã trích lập các quỹ dự phòng dé cho vay trung — dai hạn bởi vì tính ôn định của loại tiền gửi này. Vì thế, các NH luôn chú trọng đây mạnh huy động loại tiền gửi này và luôn giữ tỷ trọng ở mức tương đối cao, ôn định. Chứng chỉ tiền gửi: Được định nghĩa là một loại giấy tờ có giá được phát hành bởi các tô chức tín dụng ghi nhận quyền sở hữu của KH đối với một khoản tiền gửi có kì hạn. Đây là một trong những công cụ huy động vốn trung và dài hạn của ngân hàng hướng đến nhóm khách hàng có một số tiền nhàn rỗi không sử dụng trong một thời gian dài và ít rủi ro.
Chứng chỉ tiền gửi thường được phát hành theo từng dot và người sở hữu sẽ được hưởng một tỷ lệ lãi suất nhất định cũng như được đảm ảo an toàn cho khoản tiền gửi của mình. Kỳ phiếu ngân hàng: Kỳ phiếu là một công cụ huy động vốn trung và dài hạn của ngân hàng dé 6n đáp ứng nhu cầu vốn cho các kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Day là hình thức huy động vốn nhanh với lãi suất thường cao hơn 1-1,5% với chương trình lãi suất tiết kiệm thông thường và có thê đễ dàng chuyên nhượng.2 Hiệu quả huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm Bat kỳ hoạt động nào của mình, con người đều quan tâm đến hiệu quả. Điều này cónghĩa với một lượng chi phí nhất định , con người đều mong muốn có một kết qua lớnnhất , đáp ứng nhu cầu cao nhất của con người hoặc muốn tạo ra một khối lượng sanpham cho trước.
Trong xu hướng kinh tế thị trường ngày nay, ngân hàng đang phải chịu rất nhiều ảnh hưởng từ biến động kinh tế dù nhỏ hay lớn đều ảnh hướng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn tiền gửi nói riêng. Vì thế, để đánh giá chính xác và đúng đắn sự phát triển của ngân hàng cũng như khả năng thích nghi của NHTM ta cần nhìn vào những thành tựu mà ngân hàng đạt được trong việc huy động vốn tiền gửi. Hiệu quả trong công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại dựa trên mối tương quan so sánh giữa kết quả thu được từ vốn huy động và chi phí bỏ ra dé huy động. Hiệu quả này càng cao khi kết quả đạt được (chính là doanh thu của việc sử dụng khoản vốn huy động tiền gửi) càng cao và lượng chỉ phí bỏ ra càng thấp (bao gồm lãi phải trả và các chi phí khác).
Theo những khái niệm hiệu quả trên cho thay răng chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chỉ phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất với chỉ phí thấp nhất là rất khó. Đề đánh giá hiệu quả của việc huy động vốn tiền gửi ta phải xem xét khi nào ngân hàng bỏ ra chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt kết quả cao nhất như vậy mới được gọi là hiệu quả. Bên cạnh đó, hiệu quả của việc huy động vốn tiền gửi còn có mối liên kết rất mật thiết với việc ngân hàng sử dụng khoản tiền gửi đó để đầu tư và cho vay đem lại lợi nhuận như thế nào.
Nói cách khác là việc ngân hàng huy động lượng tiền gửi hợp lý và đáp ứng được khả năng sử dụng tiền gửi.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại 1.