CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM, CÁC NGHIỆP VỤ CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Hiện nay có số khái niệm bàn về NH và NHTM tiêu biểu là: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.[26, Điều 20] NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
18] Khái niệm NHTM của Nguyễn Minh Kiều 2013 cũng là khái niệm phù hợp với nội dung của luận văn nghiên cứu này. Các nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm “nhất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Huy động vốn được hiểu là thu hút những khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc đẩy lưu thông tiền tệ.
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các NHTM đã thu hút, tập trung huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng của các doanh nghiệp và dân cư vào ngân hàng. Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển 9 kinh tế của vùng, ngành, các thành phần kinh tế đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với nghiệp vụ huy động vốn, các NHTM đã thực hiện được vai trò là trung gian tài chính, huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, nó chuyển của cải xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm năng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh, nâng cao mức sống xã hội. Từ đó mà ngân hàng thu được lợi nhuận cho mình cũng như góp phần mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tổ chức, dân cư làm nâng cao vị thế, uy tín của ngân hàng.
NHTM căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của từng vùng, từng ngành trong cả nước trên cơ sở cân đối nguồn vốn của mình để từ đó đưa ra các loại hình nhận tiền gửi phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế cũng như tối đa được lợi nhuận thu về. Hoạt động sử dụng vốn Các nguồn vốn sau khi huy động sẽ được ngân hàng thương mại phân bổ sử dụng vào các mục tiêu khác nhau. Nguyên tắc hoạt động của ngân hàng là dự trữ một phần dưới dạng tiền, phần còn lại được sử dụng vào các nghiệp vụ sinh lời nhằm tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi. Các nghiệp vụ sử dụng vốn rất phong phú với nhiều hình thức khác nhau.
Tuy nhiên, có thể chia làm các nhóm chính sau: Hoạt động tín dụng Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam số 47/2010/QH12 ghi:Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới cá hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Như vậy, các nghiệp vụ tín dụng mà ngân hàng có thể thực hiện chủ yếu là cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Cho vay là một chức năng, một nhiệm vụ cơ bản nhất của NHTM. Về bản chất, với nghiệp vụ này ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng đối với một lượng vốn nhất định của mình cho một bên thứ hai để đổi lấy thu nhập về lãi.
Đối với ngân 10 hàng, cho vay là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu, là nguồn thu nhập chính bù đắp các chi phí trong hoạt động của ngân hàng. Với một ngân hàng trung bình, thu nhập từ cho vay chiếm 70 – 80% tổng số thu nhập. Tuy nhiên do mối quan hệ logic giữa thu nhập và rủi ro, cho vay cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều mối lo ngại nhất cho các ngân hàng, trong đó rủi ro lớn nhất mà ngân hàng thường xuyên phải đối mặt là rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu hồi được vốn. Ngân hàng thực hiện chiết khấu thương phiếu và cá giấy tờ có giá: Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá với mục đích hưởng một mức lợi tức – thường gọi là lợi tức chiết khấu – tương xứng với chi phí vốn và rủi ro mà ngân hàng phải đảm nhận khi sở hữu các giấy tờ có giá đó.
Sau khi chiết khấu, ngân hàng có thể giữ tài sản này tới lúc mãn hạn hoặc tiến hành tái chiết khấu hay bán lại trên thị trường tiền tệ. Bảo lãnh là việc ngân hàng thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Ngân hàng thu phí bảo lãnh nhằm bù đắp chi phí. Ngoài ra ngân hàng còn thu được khoản ký quỹ và nguồn tiền gửi với lãi suất thấp khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh.
Cho thuê tài chính thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Nó gần giống với cho vay ở chỗ ngân hàng phải xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định. Cho thuê không có tài sản đảm bảo nên rủi ro cao, ngân hàng phải lập dự phòng rủi ro. Hoạt động đầu tư Sau cho vay, đầu tư chiếm tỷ trọng cao thứ hai trong tổng tài sản.
Ngân hàng có thể đầu tư vào việc mua chứng khoán, góp vốn vào các doanh nghiệp hoặc đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành ngân hàng cũng phát triển không ngừng, các ngân hàng đang chú trọng phát triển theo hướng ngân hàng đa năng, ngân hàng theo mô hình tập đoàn, mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực thuộc tài chính – ngân hàng – bảo hiểm và nhiều lĩnh vực khác. Các hoạt động khác 11 Mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Thông qua việc mở các tài khoản, ngân hàng ngoài việc bảo quản tiền cho khách hàng còn thực hiện các hoạt động thanh toán theo nhu cầu của khách hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền trả cho khách hàng mà chỉ cần viết lệnh chi trả cho khách.
Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ góp phần làm tăng nhanh vòng quay vốn, an toàn, thuận tiện, giúp giảm lượng tiền mặt, chi phí lưu thông trong nền kinh tế, giúp tăng cường quản lý vĩ mô của NHNN. Ngân hàng sẽ thu được phí dịch vụ thanh toán, tăng lượng khách hàng giao dịch. Bảo quản vật có giá Cũng là nhu cầu được đảm bảo tài sản của khách hàng, các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vật có giá (vàng, các vật quý có giá trị khác…). Ngân hàng sẽ giao cho khách hàng một giấy chứng nhận, được yêu cầu chi trả bất cứ lúc nào, ngược lại khách hàng phải trả phí bảo quản cho ngân hàng.
Các nghiệp vụ trung gian khác Ngoài các hoạt động dịch vụ nêu trên, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác như: ủy thác, bảo quản hộ chứng từ có giá cho khách hàng thuê két sắt, dịch vụ đại lý… Việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khách hàng không chỉ do đòi hỏi trong quá trình phát triển của nền kinh tế mà còn là cơ hội lớn để ngân hàng tăng thu nhập, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh trên thương trường. Có thể thấy, xu hướng nguồn vốn về dịch vụ ngày càng tăng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu về kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời qua các nghiệp vụ trung gian này, NHTM góp phần làm tăng tốc độ luân chuyển đồng vốn, tiết kiệm vốn trong quá” trình thanh toán, giảm tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông trong xã hội. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Quan niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 12 * Khái niệm tín dụng Trong nền kinh tế hàng hóa, trong cùng một thời gian luôn có một số “người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu chovay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyểntừ nơi thạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thuđược do sử dụng vốn vay. Tín dụng theo nghĩa La tinh là Creditim, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tin tưởng.
Tên gọi này xuất phát từ bản chất quan hệ tín dụng. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu,thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: Tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước,tín dụng thuê mua và tín dụng tiêu dùng.Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.
Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng không hề mất đi mà còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngay nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại vàbổ sung lẫn nhau và nó có vai trò quan trong trong sự phát triển kinh tế. Trải qua nhiều giai đoạn, lịch sử phát triển cho thấy,tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá.