CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Từ tiếng Việt 1. Quan niệm về từ tiếng Việt Từ là một trong những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học. Khi nghiên cứu bất kỳ một ngôn ngữ nào người ta không thể không nhắc đến việc xác định đơn vị này.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa có sự thống nhất và là một vấn đề rất khó, còn nhiều tranh cãi trong lí thuyết ngôn ngữ học đại cương. Đối với các ngôn ngữ biến hình việc xác định ranh giới từ dường như đơn giản hơn vì có thể dựa vào khoảng trắng chính tả để làm ranh giới phân biệt, ngược lại tiếng Việt thì khoảng trắng không phải là ranh giới để xác định các từ mà chỉ là ranh giới xác định các tiếng. Từ của tiếng Việt có những điểm khác biệt so với các ngôn ngữ này: Thứ nhất, từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa còn các ngôn ngữ Ấn Âu đơn vị nhỏ nhất là hình vị. Thứ hai, từ Tiếng Việt có nhiều biến thể ngữ âm nhưng không có biến thể hình thái học: lời và nhời, trời và giời, trăng và giăng…dù đứng trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chũng cũng giữ nguyên một hình thức, ngược lại trong ngôn ngữ Ấn Âu từ có thể tồn tại dưới nhiều từ hình khác nhau.
Và cuối cùng, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ Tiếng Việt. Vì vậy ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát, chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa, ở các ngôn ngữ biến hình ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng những bộ phận khác nhau của từ. Nhờ có các dạng của từ mà ý nghĩa của từ bao giờ cũng cụ thể xét về mặt ngữ pháp. Theo quan điểm của GS Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền.
69] Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, chúng tôi tham khảo thêm một số quan niệm khác về từ của các nhà nghiên cứu phương Tây. Cách nhìn của họ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thường mang tính phổ quát được ứng dụng nhiều trong việc giải quyết các vấn đề về từ khi xây dựng máy tìm kiếm hoặc dịch. Jakhontov, các nhà nghiên cứu khác nhau đã dùng thuật ngữ “từ” để gọi những hiện tượng khác nhau, nhưng có quan hệ lẫn nhau. Ít nhất có 5 quan niệm khác nhau về cái được gọi là “từ” [28, tr.
14]2: Đầu tiên là quan niệm từ chính tả: Từ chính tả là khoảng cách giữa hai chỗ trống trên chữ viết. Hiện nay trên các công trình dịch máy, người ta định nghĩa từ như vậy. Quan niệm đó về từ còn được gặp cả trong những lĩnh vực khác của ngôn ngữ học. Nguyên tắc viết liền và viết rời trong ngôn ngữ nào đó được nêu lên thành nguyên tắc xác định ranh giới của từ.
Nhưng chính tả (nguyên tắc viết liền và viết rời) không phải bao giờ cũng phản ánh đúng những hiện thực tồn tại khách quan trong ngôn ngữ hoặc phản ánh đúng sự lĩnh hội chung của những người sử dụng ngôn ngữ đó. Có những ngôn ngữ không có khoảng cách giữa các từ hoặc khoảng trắng không có nghĩa là đã phân định được từ (trong tiếng Việt). Đối với quan điểm từ từ điển học, từ là đơn vị mà căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa của nó xếp riêng trong từ điển. Từ điển học không bắt buộc phải trùng với chính tả mà chỉ là một bộ phận của từ chính tả hoặc có những trường hợp từ chính tả chỉ tồn tại với tư cách là một bộ phận của từ từ điển học.
Từ ngữ âm là nhóm các hình vị được thống nhất bởi các hiện tượng ngữ âm nào đó.Từ ngữ âm trong mỗi ngôn ngữ có những đặc trưng riêng của mình: trọng âm, sự hài hòa nguyên âm, sự biến đổi của những âm tố nào đó trong phạm vi của một từ…Từ ngữ âm là cái mơ hồ, không rõ ràng nhất trong tất cả những hiện tượng được gọi là từ. Bởi mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm ngữ âm và ngữ pháp riêng nên những đặc trưng của từ ngữ âm của chúng cũng không có tính phổ quát. Nhưng việc nghiên cứu những đặc trưng riêng của các ngôn ngữ sẽ tạo được những khác biệt nhằm đáp ững những nhu cầu ứng dụng của riêng ngôn ngữ đó. Từ biến tố là một phức thể luôn luôn gắn với hai phần, một phần là “thân từ” có ý nghĩa đối tượng, còn phần kia “biến tố” biểu thị mối quan hệ của từ đó khác 2 Xem thêm: Nguyễn Thiện Giáp (5.2005), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với từ khác trong câu.
Các hiểu như vậy không thể áp dụng cho tất cả ngôn ngữ, đặc biệt là những ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt và tiếng Hán vì 2 ngôn ngữ này không có biến tố. Từ hoàn chỉnh: từ hoàn chỉnh là nhóm các hình vị không thể tách hoặc hoán vị các hình vị đó mà lại không làm thay đổi nghĩa của chúng hoặc không vi phạm mối quan hệ giữa chúng. Hiện nay, công nghệ thông tin thường dựa vào quan niệm từ trong từ điển và từ chính tả để dung hòa tạo ra một quy luật nhận diện từ riêng cho máy. Từ trong từ điển đảm bảo tính cấu trúc về nghĩa và từ pháp.
Từ chính tả lại đảm bảo về mặt hình thức. Cả hai loại từ này đều có thể dễ dàng xây dựng được quy luật phù hợp vừa đơn giản vừa đảm bảo tính chính xác. Tuy vậy, như đã nói ở trước, từ trong Việt ngữ học không đơn giản như vậy. Để nhận diện từ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chuẩn để nhận diện từ: tiêu chuẩn về ngữ nghĩa, tiêu chuẩn về hình thức.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Đặc trưng để xác định từ, phân biệt từ với hình vị Chức năng * Chỉ các thực từ mới có chức năng định danh định danh * Không bao quát hết dữ liệu: cụm từ, câu cũng có thể có chức năng định danh * Biểu thị khái niệm được coi là dấu hiệu xác định từ Khái niệm, * Không bao quát hết dữ liệu: thán từ, đại từ, giới từ, liên biểu tượng từ không biểu thị khái niệm vẫn được coi là từ; cụm từ biểu thị khái niệm nhưng không được coi là từ * Phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp * Ý nghĩa biểu niệm là trung tâm của ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa biểu Những (GS Đỗ Hữu Châu) niệm tiêu * Ý nghĩa từ vựng luôn luôn là ý nghĩa riêng của từng từ chuẩn (GS Nguyễn Thiện Giáp) ngữ * Tất cả những đơn vị ngôn nghĩa ngữ còn lại (trừ cụm từ tự do) ít nhiều đều võ đoán hóa về nghĩa. * Không thể coi là tiêu chuẩn Tính hoàn Tính võ đoán về nghĩa hữu hiệu để nhận diện từ chỉnh về nghĩa * Tiêu chuẩn phân biệt từ Tính thành ngữ ghép và cụm từ tự do * Tiêu chuẩn nhận diện từ ghép và thành ngữ * Biểu thị khái niệm tồn tại Tính hoàn chỉnh về nghĩa bên ngoài chuỗi lời nói Bảng 1.1: Những tiêu chuẩn ngữ nghĩa 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Giá trị phân biệt những cấu tạo được gọi là từ ghép và cụm từ tự do, không phải là đặc trưng chung của từ. * Giải quyết vấn đề ranh giới từ bằng phương pháp xen Tính cố kẽ và thêm ngoài. Ví dụ: áo dài: áo dài quá…(GS định hay Nguyễn Kim Thản) tính vững * Tiêu chuẩn kiểm nghiệm tính cố định của những đơn chắc về cấu vị gọi là từ ghép: dựa vào trọng âm, dựa vào tính chất tạo của thành tố trực tiếp, dựa vào quan hệ trật tự từ, dựa vào khả năng cải biến tổ hợp.
(GS Nguyễn Tài Cẩn) * Ngưỡng của tính cố định lựa chọn một cách chủ quan, không thống nhất Những * Phân biệt từ và hình vị tiêu chuẩn * Tiếng độc lập là tiếng có thể tự mình đảm nhận chức Tính độc về hình năng định danh và chức năng thông báo, biểu hiện của lập của từ thức tính độc lập là có thể tự mình làm thành một câu tối giản. (GS Nguyễn Thiện Giáp) Tính * Thông thường các từ bao giờ cũng thuộc một từ loại từ loại nào đó, hình vị với tư cách một bộ phận của từ không có tính chất từ loại * Tiêu chuẩn xác định từ loại: tiêu chuẩn ý Tính từ loại nghĩa, tiêu chuẩn hình thái học, tiêu chuẩn cú và quan hệ pháp. cú pháp Quan * Các từ kết hợp với nhau theo quy tắc cú pháp hệ cú của ngôn ngữ, cho nên nếu chứng minh được pháp quan hệ giữa hai yếu tố AB là quan hệ cú pháp thì có thể kết luận A và B là các từ Bảng 1.2: Những tiêu chuẩn về hình thức 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng các dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó. + Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết).
Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng: tôi, bác, người, nhà, cây, hoa, trâu, ngựa. + Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép. Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau: Từ ghép đẳng lập. Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa.
Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp. Đây là một trong những điểm làm cho nó khác với từ ghép chính phụ. Từ ghép chính phụ. Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ.
Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính. Ví dụ: tàu hoả, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà. xấu bụng, tốt mã, lão hoá. xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thằng tắp, sưng vù.
Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm).