CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý thuyết về hộ nghèo Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến hộ nghèo. Tùy theo quan điểm, mục đích nghiên cứu mà mỗi tác giả sẽ có cách tiếp cận khác nhau nhằm giải quyết những nội dung cần quan tâm.1 Khái niệm về hộ nghèo Khái niệm hộ nghèo được hình thành từ sự kết hợp của 2 khái niệm riêng biệt là hộ gia đình và nghèo. Theo từ điển kinh tế (Business dictionary), hộ gia đình là toàn bộ các thành viên sống dưới một mái nhà, cư trú trong phần nhà ở riêng biệt có quyền trao đổi với các vùng bên ngoài (hay vùng công cộng) hay tính theo cơ sở là nấu ăn chung. Các thành viên trong hộ gia đình có mối quan hệ huyết thống hay mối quan hệ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, họ cấu thành một gia đình.
Tại Việt Nam, theo quy định tại điều 106 Bộ luật dân sự, hộ gia đình là tập hợp các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Như vậy, theo quan điểm của thế giới, hộ gia đình phải “sống dưới một mái nhà” tức là những thành viên phải cùng chung sống tại một địa chỉ được pháp luật thừa nhận, hoặc là “nấu ăn chung” tức là các thành viên có quan hệ về nhu cầu sống cơ bản của con người đó là ăn , “các thành viên có mối quan hệ huyết thống hay mối quan hệ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ”. Còn theo quan điểm của Việt Nam, hộ gia đình là tập hợp các thành viên có “ tài sản chung”, có “hoạt động kinh tế chung”. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội năm 1995, nghèo được định nghĩa là thu nhập bình quân trong năm thấp hơn một chuẩn chung.
Đồng thời, cũng nhận định rằng nghèo không chỉ đo lường bằng thu nhập, chi tiêu bình quân của hộ gia đình mà còn ở khả năng tiếp cận một cách đồng thời các yếu tố hàng hóa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 và dịch vụ nhu cầu thiết yếu trong xã hội. Các yếu tố ở đây có thể là: lương thực, nhà ở, nước sạch hay việc tiếp cận các chương trình chăm sóc sức khỏe thiết yếu… Tại Hội nghị chống nghèo ở châu Á Thái Bình Dương do ESCAP (The United Nations Economic and Social Commission for Asia and Pacific) tổ chức vào tháng 3 -1993, nghèo được định nghĩa là tình trạng không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Trong khuôn khổ của luận văn này, kết hợp hai khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm về hộ nghèo: là một tập hợp các thành viên có tài sản chung, có mối quan hệ với nhau về huyết thống hay mối quan hệ được pháp luật thừa nhận, cùng góp sức để hoạt động kinh tế chung; gặp khó khăn trong vấn đề tiếp cận các yếu tố hàng hóa và dịch vụ cần thiết cơ bản của con người trong đời sống.2 Phương pháp đo lường nghèo Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đo lường nghèo. Nước Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế kỷ trước, cụ thể, thu nhập 18.600 đô la/năm là ngưỡng nghèo đối với các gia đình có bốn người (gồm bố mẹ và hai con), và thu nhập 9.573 đô la/năm là ngưỡng nghèo đối với người độc thân trong độ tuổi lao động.
Hiện nay thống kê của các tổ chức như ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) chưa có thang đo thống nhất về khả năng tiếp cận các yếu tố hàng hóa và dịch vụ cơ bản. Vì không có chuẩn nghèo chung cho các quốc gia, từ năm 2005 WB vẫn dùng thang đo truyền thống là đo lường thu nhập bình quân đầu người (tính theo giá hiện hành), và tỉ lệ phần trăm người có mức sống bình quân thấp hơn 1,25$/ ngày (tính theo ngang giá sức mua PPP). Tỉ lệ dân số sống dưới mức chuẩn chung, và tỉ lệ này khác nhau và có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng. Áp dụng tiêu chuẩn là mức sống là 1,25$/ ngày của WB, bảng thống kê tỉ lệ người nghèo tại một số quốc gia trong vùng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Thu nhập bình quân đầu người (tính theo giá hiện hành) và tỉ lệ người sống dưới mức chuẩn 1,25$/ ngày năm 2012 của một quốc gia. Thu nhập bình quân Tỉ lệ % (tính theo STT Nước đầu người (tính theo ngang giá hiện hành USD) giá sức mua PPP) 1 Trung Quốc 5.1, số liệu WB công bố bao gồm thu nhập bình quân đầu người và tỉ lệ người sống dưới mức chuẩn cho thấy độ phân tán của thu nhập của bộ phận dân cư của quốc gia. So với một số quốc gia trong vùng, mặc dù Việt Nam có thu nhập bình quân đầu người thấp, tuy nhiên tỉ lệ số người có thu nhập thấp hơn mức chuẩn $1,25/ ngày cũng ở mức thấp. Điều này nói lên bất bình đẳng trong thu nhập giữa các bộ phận dân cư tại Việt Nam thấp hơn các quốc gia khác.
Trong khi đó Philippin đó thu nhập bình quân đầu người gần gấp hai lần của Việt Nam nhưng 1/5 dân số sống dưới ngưỡng thu nhập $1,25/ ngày mà WB thống kê. Hay như Ấn Độ là nước có mức thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ Việt Nam nhưng có đến ¼ dân số có mức sống dưới 1,25$/ngày. Theo xu hướng phát triển chung của thế giới, vấn đề bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững ngày càng được các quốc gia chú trọng, quan tâm. Đặc biệt vấn đề nghèo không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh nghèo về tiền (chủ yếu quan tâm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 đến thu nhập và chi tiêu) mà nghèo được nhìn nhận theo nghĩa rộng hơn, theo nhiều chiều cạnh khác nhau liên quan đến cuộc sống con người như: điều kiện sống, an ninh lương thực, tiếp cận các dịch vụ cơ bản, sở hữu tài sản và công cụ sản xuất, tình trạng phát triển kinh tế - xã hội… Một số nước sử dụng các tiêu chí để xác định nghèo như: Ma-lai-xi-a sử dụng tiêu chuẩn 9.910 ca-lo một ngày tính trên một gia đình có hai người lớn và ba trẻ em để làm đường nghèo.
Ấn Độ áp dụng ngưỡng nghèo với chuẩn mực tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày 2.400 ca-lo đối với vùng nông thôn và 2.100 ca-lo đối với vùng đô thị. Phi-lip-pin lại lấy ngưỡng nghèo ở mức 2. Tương tự, Xri Lan-ca: 2.500 ca-lo; Nê-pan: 2.124 ca-lo; Thái Lan: 2.099 ca-lo; Bang-la-đet: 2.122 ca-lo; A-dec-bai-gian: 2.200 ca-lo… Ở Việt Nam, từ trước đến nay thường sử dụng chuẩn nghèo về thu nhập để xác định nghèo. Nhưng Chính phủ Việt Nam vừa có kế hoạch thay đổi cách xác định nghèo đơn chiều (chỉ có thu nhập) sang xác định tiêu chí và chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 gồm: tiêu chí về thu nhập và tiêu chí về tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.3 Nguyên nhân nghèo tại các hộ Trong xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng đa dạng phong phú thì nguyên nhân gây ra nghèo cũng rất đa dạng.
Không có một nguyên nhân biệt lập, riêng lẽ dẫn đến nghèo mà có sự đan xen lẫn nhau giữa nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan; nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp; nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân thứ yếu… Nguyên nhân nghèo ở mỗi đất nước trên thế giới, mỗi vùng miền điều có sự khác biệt nhau về của cải vật chất, sở hữu tài sản, khả năng nhận thức của con người, giáo dục đào tạo…Tựu chung lại, nguyên nhân gây ra nghèo có thể được chia thành những nhóm chính như sau: - Vấn đề tìm việc làm: Tỉ lệ thất nghiệp tại vùng nông thôn thường cao hơn so với vùng thành thị do: (i) quá trình công nghiệp hiện đại hóa làm giảm nhu cầu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp; (ii) khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm giảm lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cầu nhập khẩu hàng nông sản, ảnh hưởng đến đại bộ phận người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp; (iii) tốc độ chuyển dịch lao động từ vùng nông nghiệp sang bộ phận phi nông nghiệp chậm, chỉ khoảng 1%/ năm (theo báo cáo xóa đói giảm nghèo); (iv) trình độ lao động của người lao động trong vùng nông nghiệp thấp gây khó khăn trong việc chuyển đổi nguồn lao động từ bộ phận nông nghiệp sang lĩnh vực khác. - Trình độ người lao động nghèo thấp. Vì nghèo nên không có điều kiện hoặc không quan tâm tiếp cận với giáo dục gây ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tiếp nhận các ứng dụng khoa học kỹ thuật hay các chính sách của nhà nước, tạo nên một vòng luẩn quẩn. Để giảm nghèo hiệu quả và bền vững cần có giải pháp nâng cao nguồn lực lao động, đặc biệt tại vùng nông thôn và phân bổ sử dụng hiệu quả nguồn lực này.
- Ảnh hưởng của thiên tai, những hộ nghèo nhạy cảm trước những thay đổi của ngoại cảnh như hạn hán, lũ lụt, biến đổi khí hậu. Thiên tai được nhận định là một trong những nguyên nhân gây ra tái nghèo. - Tình trạng nghèo còn phụ thuộc vào vùng địa lý và các nhóm dân tộc. Điều này thể hiện tỷ lệ hộ nghèo phân bố khác nhau giữa các vùng, bên cạnh đó tỷ lệ hộ nghèo có chênh lệch không nhỏ giữa nhóm dân tộc.
(Báo cáo của Ngân hàng thế giới, 2012) Giải pháp giảm nghèo bằng cách đầu tư cho giáo dục nhận được sự đồng tình của các quốc gia trên thế giới, vì đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao trình độ của các thành viên trong hộ gia đình giúp họ tự vươn lên thoát nghèo. Giải pháp đầu tư cho giáo dục đòi hỏi một thời gian nhất định mới có hiệu quả, nhưng sẽ có tác dụng lâu dài và căn cơ khi giúp các hộ gia đình tiếp cận với tri thức và tìm ra phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả.