PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư, phát triển kinh tế ngày càng gia tăng và hoạt động tín dụng của các ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn hấp dẫn đã phần nào đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chủ yếu của các NHTM Việt Nam, là nguồn doanh thu chủ yếu của các ngân hàng đồng thời tín dụng rất nhạy cảm với các biến động của nền kinh tế và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong thời kỳ kinh tế có nhiều bất ổn, cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, các ngân hàng không ngừng mở rộng danh mục các sản phẩm cho vay, nới lỏng các điều kiện vay vốn để giữ chân khách hàng và thu hút các khách hàng tiềm năng nhằm tăng trưởng tín dụng.
Thực tế cho thấy dư nợ cho vay của các NHTM hiện nay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng (dao động từ 65% đến 80%) do đó chất lượng tín dụng có tính chất quyết định lớn đến kết quả, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Chất lượng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng đang là một trong những mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng nhằm tạo sự tăng trưởng tín dụng một cách ổn định, bền vững góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm tới. Trong các hoạt động của Ngân hàng thương mại, tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của các ngân hàng. Tín dụng là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu và cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất mà ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính trung gian khác phải đối mặt. Hậu quả của rủi ro trong hoạt động tín dụng luôn có tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung. Trong bối cảnh nền kinh tế chịu ảnh hưởng sâu rộng từ dịch Covid-19 và tác động kép từ xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long gây khó khăn trực tiếp tới dòng tiền của các doanh nghiệp/cá nhân/hộ gia đình, tỷ lệ nợ xấu của VietinBank tại 2 thời điểm cuối quý I/2020 ở mức 1,81%, tăng so với đầu năm (1,19%); tỷ lệ bao phủ nợ xấu theo đó cũng giảm xuống 78%. Bước sang năm 2021, cùng với việc dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát tại Việt Nam, VietinBank đã chủ động triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, kiểm soát lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro để ngăn ngừa nợ xấu mới phát sinh, nỗ lực thu hồi, xử lý nợ xấu, đưa tỷ lệ nợ xấu quý II về dưới 1,7%; đồng thời cải thiện tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên trên 84%.
Là một chi nhánh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Vietinbank Hoàn Kiếm luôn giữ vững vị thế là nhà cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh đầu tư xây dựng cơ bản, trong các hoạt động truyền thống như: kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án… cũng như mảng dịch vụ NH hiện đại: Kinh doanh ngoại tệ, các công cụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử … Trong các hoạt động kinh doanh thì hoạt động tín dụng vẫn đóng vai trò chủ yếu của Vietinbank Hoàn Kiếm và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội cũng như đất nước trong thời gian qua. Tuy nhiên chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm còn nhiều hạn chế như như Chất lượng thẩm định và đánh giá phương án kinh doanh chưa được thống nhất và đồng bộ trong chi nhánh, Dư nợ của chi nhánh còn đang tập trung vào một số khách hàng lớn, rủi ro tín dụng dễ xảy ra khi chưa có sự phân chia tín dụng, hồ sơ vay vốn chưa được phù hợp với khách hàng do hồ sơ thủ tục còn rườm rà điều kiện còn bó buộc, nợ quá hạn chủ yếu do nguyên nhân việc thẩm định và kiểm soát vốn vay chưa đáp ứng được theo qui định về tần suất kiểm tra; về nội dung kiểm tra;. đôi khi việc kiểm tra còn mang nặng tính hình thức chỉ đáp ứng đủ theo qui định, do tăng trưởng tín dụng nóng Bởi vậy làm thế nào để tín dụng của các NHTM Việt Nam hoạt động an toàn hiệu quả cao, phục vụ tốt chon nhu cầu phat triển kinh tế xã hội đang là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa quan trọng và quyết định về mặt lý thuyết lẫn thực tế. Kết quả tài chính phản ánh sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của Vietinbank Hoàn Kiếm, bao gồm gia tăng quy mô và chất lượng dịch vụ tín dụng .Với 3 mục tiêu là một trong những Ngân hàng tốt nhất cho các doanh nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược dành cho khách hàng trong giai đoạn 2020- 2025 nhằm biến các tiềm năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành hiện thực để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp xúc với nguồn vốn từ ngân hàng, Vietinbank Hoàn Kiếm đã luôn chú trọng tới việc tăng trưởng tín dụng nhưng phải đảm bảo an toàn hiệu quả.
Tuy nhiên thực tế hoạt động tín dụng tại Vietinbank Hoàn Kiếm còn những hạn chế tồn đọng, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh vì thế tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn với hy vọng góp một phần nhỏ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Mục đích nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh. Nhiệm vụ cụ thể Một là: Hệ thống hóa lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại; Hai là : Phân tính, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm từ đó chỉ ra những hạn chế, tồn tại về chất lượng tín dụng của Chi nhánh; Ba là :Trên cơ sở xác định nguyên nhân dẫn đến những hạn chế về chất lượng tín dụng , đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Chất lượng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm 4 - Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 2016-2020, đề xuất giải pháp đến năm 2025. - Phạm vị về nội dung : Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại được hình thành và đảm bảo từ 3 phía là từ Ngân hàng, từ khách hàng và từ nền kinh tế.
Về phía ngân hàng: trước khi cho vay, Ngân hàng phải cân nhắc vừa đảm bảo không vi phạm luật Ngân hàng, các qui trình nghiệp vụ vừa giải quyết được đầu ra và có hiệu quả. Đây là một vấn đề khó trong quá trình thực hiện, vì vậy khi quyết định cho vay đòi hỏi Ngân hàng cần phải nghiên cứu, thẩm định kỹ, nắm bắt được thông tin về khách hàng vay vốn, tiền vay được sử dụng vào mục đích gì? được sử dụng như thế nào ? khả năng sử dụng số tiền vay đó ra sao và có hiệu quả không? Về phía khách hàng: Nếu như khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi được phần gốc và lãi khoản vốn mà Ngân hàng đã cho vay, ngược lại doanh nghiệp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ không có khả năng trả nợ, số nợ vay Ngân hàng quá hạn tăng lên và sẽ có thể dẫn đến Ngân hàng không có khả năng thu hồi vốn. Vì vậy nếu các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân có trình độ quản lý, năng lực sản xuất kinh doanh tốt, hiệu quả kinh doanh cao, bảo tồn và phát triển được vốn thì chất lượng đầu tư tín dụng Ngân hàng sẽ cao và ngược lại. Về phía nền kinh tế: Tín dụng ngân hàng phải khai thác các nguồn tài chính và sử dụng hợp lý các nguồn này, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và đất nước.
Tín dụng NHTM phải góp phần xây dựng thị trường tài chính phát triển an toàn, lành mạnh và ổn định. Luận văn của tác giả giới hạn việc đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng từ phía ngân hàng và từ phía khách hàng. Phương pháp nghiên cứu 4. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp: Bao gồm các báo cáo tổng kết thường niên của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Hoàn Kiếm từ năm 2016-2020.
Số liệu sơ cấp: Thông tin số liệu thu được qua cuộc điều tra lấy ý kiến khách hàng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Các phiếu dữ liệu khảo sát thực tế sau khi được sàng lọc các phiếu đủ tiêu chuẩn sẽ được nhập, làm sạch dữ liệu và sử dụng phương pháp phân tích-tính toán và phân tích-tổng hợp để xử lý thông tin số liệu. Sử dụng bảng biểu để thể hiện kết quả thu được. Giới thiệu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5.
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Qua quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, các website cho thấy hoạt động của ngân hàng thương mại luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Cho đến nay, đã khá nhiều công trình nghiên cứu về NHTM Việt Nam liên quan đến quản lý chất lượng tín dụng tại các NHTM như: - Luận án Tiến sỹ kinh tế: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập”, của tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012) bảo vệ tại Trường đại học Kinh tế quốc dân.