CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng phát triển 1. Khái niệm tín dụng của ngân hàng Tín dụng hiểu theo nghĩa rộng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả đi vay và cho vay. Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định là ngân hàng (hoặc các trung gian tài chính khác) thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa là ngân hang cho vay.
Việc xác định như thế này là rất quan trọng để định lượng tín dụng trong các công tác nghiên cứu cũng như các hoạt động kinh tế. Theo luật các tổ chức tín dụng của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi: "Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước". Khi các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, huy động được nhiều vốn, các ngân hàng luôn tìm kiếm cơ hội để đầu tư, cho khách hàng vay, nhằm sử dụng tối đa nguồn vốn mà ngân hàng có để có thể thu được lợi nhuận lớn nhất. Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn cho các tổ chức kinh tế, cá nhân mà tín dụng ngân hàng cũng đáp ứng cả các nhu cầu về vốn dài hạn của khách hàng, thập chí các ngân hàng cũng đáp ứng các yêu cầu của chính ngân hàng.
Vì vậy, tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành một hoạt động quan trọng nhất và không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt đối với các nước kém và đang phát triển 4 trong đó có nước Campuchia. Các hình thức tín dụng của ngân hàng phát triển Căn cứ vào mục đích Rủi ro tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào mục đich sử dụng vốn vay. Dựa vào mục đích sử dụng ta có thể đánh giá phần nào về tính an toàn của khoản tín dụng đó, chẳng hạn như việc đầu tư vào bất động sản, chứng khoán tiềm ẩn rủi ro hơn nhiều so với việc sử dụng trong tiêu dùng cá nhân. - Cho vay bất động sản: Bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các tài sản nước ngoài.
Đối với loại hình cho vay này, ngân hàng được bảo đảm bằng chính tài sản thực: đất đai, toà nhà và các công trình khác. Các khoản vay này thường có giá trị lớn và khá đảm bảo nếu như nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Nhưng nếu như có dấu hiệu xấu từ nền kinh tế thì lại rất khó để định giá đúng giá trị của bất động sản tạo nên những tiềm tàng rủi ro trong tương lai của khoản vay. - Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản tín dụng dành cho ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: giúp doanh nghiệp trang trải các chi phí như mua hàng, nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân viên. - Cho vay nông nghiệp: nhằm hỗ trợ nông dân trong hoạt động gieo trồng, thu hoạch và bảo quản sản phẩm. 5 - Cho vay đối với các cá nhân: giúp tài trợ cho việc mua ô tô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà cửa hay trang trải các khoản viện phí và các chi phí cá nhân khác. - Cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp ở trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng Thời hạn tín dụng càng dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, đi kèm với nó là khả năng thu hồi vốn càng trở nên khó khăn. Bởi khả năng trả nợ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố có cả khách quan và chủ quan, thời gian càng dài thì việc dự đoán, đánh giá về tín dụng đó càng trở nên khó khăn hơn. - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn không quá 12 tháng. Mục đích của cho vay là thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích của cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đâu dư tài sản cố định. - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích của hình thức cho vay này nhằm đầu tư vào các dự án đầu tư bất động sản dài hạn.
Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ. - Cho vay theo hợp đồng tín dụng: ngân hàng và khách hàng xác định, thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc 6 theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. - Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Ngoài ra cho vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Cho vay hợp vốn có ưu điểm là san sẻ được rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc kiểm soát tiền vay khách hàng.
- Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: khách hàng và ngân hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Việc cho vay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời điểm cụ thể lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ. Phương thức này áp dụng đối với 7 các khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn định, vòng quay vốn nhanh và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Tín dụng không có bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. ngân hàng không nắm giữ một loại tài sản nào của người vay để thanh lý nhằm thu hồi khoản vay khi có vi phạm hợp đồng mà thay vào đó là những điều kiện: phương án kinh doanh được ngân hàng đánh giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn. Khách hàng là những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, khi đó ngân hàng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần nguồn thu nợ bổ sung.
Đây là hình thức cực kỳ rủi ro vì hoàn toàn không có sự bảo đảm về tài sản nên rất ít khi được sử dụng trừ những trường hợp là các bạn hàng chính có uy tín từ lâu và có khả năng thanh toán các khoản nợ trong tương lai. 8 - Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người bảo lãnh. Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh. Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng ngân hàng có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay.
Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Các tài sản bảo đảm ở đây thường là các bất động sản, động sản thuộc quyền sở hữu của bên đi vay, được phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản được bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Chất lượng tín dụng của ngân hàng phát triển 1. Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng phát triển Để hiểu chất lượng tín dụng, ta đi từ chất lượng của hàng hoá và dịch vụ thông thường.
Vậy, chất lượng của hàng hoá dịch vụ nói chung được đánh giá bởi sự tín nhiệm của khách hàng, nó là một trong những yếu tố để thu hút khách hàng.