Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của NHTM Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHN0&PTNT chi nhánh huyện Triệu Sơn giai đoạn 2011- 2013 Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHN0&PTNT chi nhánh huyện Triệu Sơn 9 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tín dụng của NHTM 1.1 Khái niệm Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (Là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán Quá trình hình thành quan hệ tín dụng chính là quá trình hình thành các quan hệ vay mƣợn lẫn nhau trong xã hội. Đó là mối quan hệ vay mƣợn có hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định, là quan hệ chuyển dịch tạm thời quyền sử dụng vốn, là quyền bình đẳng cả hai bên đều có lợi. Trong nền kinh tế thị trƣờng đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân.Tín dụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các doanh nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tƣ xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong kinh tế thị trƣờng, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời 1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Cũng nhƣ quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng : Tín dụng là sự cung cấp một lƣợng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin- 10 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả đƣợc nợ. Với ngân hàng, để có thể tin đƣợc vào khách hàng, ngân hàng luôn thẩm định, định giá khách hàng trƣớc khi cho vay. Nếu khâu này thực hiện một cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của Ngân hàng gặp ít rủi ro và ngƣợc lại. - Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn: Đặc trƣng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyển nhƣợng tạm thời.
Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, ngân hàng xác định thời hạn cho vay dựa vào quá trình luân chuyển vốn của khách hàng và tính chất vốn của ngân hàng. Nếu ngân hàng định kỳ hạn nợ một cách phù hợp với khách hàng thì khả năng trả nợ đúng hạn cao và ngƣợc lại. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí : Tín dụng dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Sở dĩ nhƣ vậy là vì vốn hoạt động của ngân hàng chủ yếu là huy động từ bên ngoài, vốn chủ sở hữu ít khi đƣợc sử dụng để sản xuất kinh doanh mà đƣợc sử dụng chủ yếu để đầu tƣ vào tài sản cố định.
Chính vì vậy, sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho ngƣời gửi ngân hàng. Mặt khác ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí nhƣ trả lƣơng, khấu hao… Do đó, ngƣời vay ngoài việc trả gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi. Đó là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển. Khi cho vay, cái mà ngân hàng thu đƣợc là lợi nhuận sau khi đã trừ đi tất cả các khoản phí.
Đồng thời đi kèm với lợi nhuận dự kiến có rủi ro. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi khách hàng không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng (không trả đúng hạn hoặc không trả). Ngân hàng luôn phải xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro để định ra một mức lãi suất phù hợp. Rõ ràng, với một dự án có độ rủi ro cao hơn thì chi phí nợ của doanh nghiệp đó phải cao hơn và ngƣợc lại.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luật 11 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng khách quan nhƣ: Quy luật giá trị,quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh…Các doanh nghiệp để có thể đứng vững trên thƣơng trƣờng thì cần phải có vốn để đầu tƣ và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ƣu để doanh nghiệp có thể khai thác.
Các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển .Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trƣờng. Vai trò của tín dụng ngân hàng đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lƣợng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn đƣợc từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo đƣợc các nguyên tắc tín dụng.
Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọn dự án có mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trƣờng khai thác thông tin để định lƣợng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phƣơng án. Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử dụng vốn vay.
Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trƣờng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò tƣ vấn của CBTD sẽ giúp cho doanh nghiệp lƣờng trƣớc đƣợc những khó khăn, vƣợt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các 12 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lƣợng giữa lƣợng tiền cần thiết để dự trữ vật tƣ hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trƣớc đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn.
Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cƣ, nguồn kết dƣ từ ngân sách. đƣợc ngân hàng thƣơng mại huy động và sử dụng để đầu tƣ cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vƣợt quá thu nhập của dân chúng, cũng nhƣ cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nƣớc khi chƣa có nguồn thu. Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát ngân hàng thƣơng mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả.
Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ Tín dụng ngân hàng có vai trò là phân bổ các nguồn lực nhƣ một công cụ chính sách của nhà nƣớc. Thông qua chính sách tín dụng, hạn mức tín dụng, quy chế ƣu tiên vốn có thể di chuyển nơi đƣợc sử dụng theo đúng chính sách định hƣớng của nhà nƣớc. Có thể coi tín dụng là công cụ vĩ mô của Nhà nƣớc. Ví nhƣ để khuyến khích cho hoạt động đánh bắt xa bờ, ngƣời ta đầu tƣ ƣu tiên cho vay mua thuyền, hay khuyến khích cho công nghiệp hóa dầu thì ƣu tiên đầu tƣ khu công nghiệp Dung Quất.
Tín dụng ngân hàng đƣợc sử dụng chống lạm phát ổn định tiền tệ nhƣ việc thay đổi lãi suất ảnh hƣởng nhu cầu tín dụng có tác dụng quan trọng đối với tổng đầu tƣ, tác động đến tổng cầu, sản lƣợng… Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thƣơng mại là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi Nhà nƣớc muốn tăng khối lƣợng tiền cung ứng thì ngân hàng Nhà nƣớc có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế và ngƣợc lại. Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nƣớc có thể kiểm soát đƣợc khối lƣợng tiền cung ứng trong lƣu thông. 13 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Trƣớc xu thế quốc tế hoá, sự giao lƣu kinh tế giữa các nƣớc luôn đƣợc đặt ra.
Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nƣớc ngoài. Ngân hàng thƣơng mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay. đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trƣờng quốc tế. Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nƣớc, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển Tín dụng ngân hàng góp phần cải thiện,nâng cao đời sống cho dân cư Tín dụng ngân hàng giúp cho doanh nghiệp và các cá nhân có vốn kinh doanh, tiêu dùng làm tăng chất lƣợng kinh doanh, tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lƣợng cuộc sống và ổn định trật tự xã hội.