phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan về tín dụng và chất lƣợng tín dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Bình Dƣơng 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Lý luận cơ bản về tín dụng khách hàng doanh nghiệp 1.
Khái niệm tín dụng Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, khái niệm tín dụng trở thành một thuật ngữ phổ biến, đƣợc đề cập đến trong nhiều nghiên cứu, phản ánh mối quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn giữa chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm tín dụng nhƣ: Theo Lê Thị Tuyết Hoa và cộng sự (2017), tín dụng là khái niệm phản ánh “quá trình chuyển giao quyền sử dụng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu đến ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian xác định. Sau khoảng thời gian đó, ngƣời sử dụng phải hoàn trả giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Nguyễn Thị Thu Đông (2012) định nghĩa tín dụng là “quan hệ vay mƣợn giữa các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhƣợng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lƣợng giá trị (có thể dƣới hình thức hàng hóa hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên thống nhất dựa trên nguyên tắc có hoàn trả”.
Trong hoạt động tín dụng của NHTM thì rủi ro có tính tất yếu và không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro tín dụng (RRTD) sẽ phát sinh nếu xuất hiện một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không đƣợc thực hiện đầy đủ. Thiện chí trả nợ là yếu tố mang tính chất định tính, ngân hàng khó có thể định lƣợng đƣợc. Bên cạnh đó, khi khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng có rất nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách hàng, làm cho khả năng trả nợ không đƣợc thực hiện đầy đủ, chính vì vậy rủi ro trong quan hệ tín dụng là khá cao, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế tín dụng đến mức thấp nhất.
Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. Không giống các giao dịch khác, trong tín dụng ngân hàng sự hoàn trả có ý nghĩa rất quan trọng (do bản chất hoạt động ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi 12 suất). Để đảm bảo khả năng hoàn trả của khách hàng đối với các khoản tín dụng đƣợc cấp, thì trong hoạt động tín dụng cần phải: Xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý: Ngân hàng phải căn cứ vào thời gian luân chuyển của đối tƣợng cấp tín dụng và khả năng tài chính/thu nhập của khách hàng. Chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hoà giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và đƣợc nền kinh tế chấp nhận.
Mức lãi suất ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng phải bù đắp đầy đủ các chi phí ngân hàng bỏ ra cho việc huy động nguồn tiền cho vay, các chi phí thực hiện khoản tín dụng, rủi ro tín dụng… và tạo lợi nhuận cho ngân hàng. Nhƣng, tín dụng không chỉ tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng mà phải đảm bảo lợi ích tổng thể của các đối tƣợng khác, lãi suất ngân hàng áp dụng phải nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế. Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện : Quá trình cấp tín dụng diễn ra trên cơ sở pháp lý nhƣ hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khế ƣớc nhận nợ… đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng.
Giá trị được trả thông thường lớn hơn giá trị cho vay: Khi kết thúc vòng tuần hoàn của tín dụng, chủ thể đi vay có nghĩa vụ thanh toán cho chủ thể cho vay toàn bộ vốn tín dụng cho vay và phần giá trị tăng thêm còn gọi là lợi tức tín dụng. Sự chênh lệch này là “cái giá” phải trả cho việc sử dụng lƣợng giá trị nhàn rỗi trong một thời gian nhất định. Điều này hoàn toàn là phù hợp vì nếu không cho vay, bên cho vay hoàn toàn có thể sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tƣ sinh lời. Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng có thể hiểu là quan hệ tín dụng hình thành giữa ngân hàng thƣơng mại và khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác, theo đó, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng trong một khoảng thời gian xác định với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
Khái niệm tín dụng khách hàng doanh nghiệp Tín dụng doanh nghiệp của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục 13 đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Hồ Diệu, 2000). Theo Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Xuất phát từ khái niệm cho vay nhƣ trên, hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp có thể hiểu nhƣ sau: “Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại đối với các doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng thƣơng mại giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Đặc điểm tín dụng khách hàng doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng, theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013) có những đặc trƣng nhƣ sau: Số lƣợng KHDN vay vốn tại ngân hàng thƣờng chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số lƣợng khách hàng vay vốn của ngân hàng.
Thông tin về KHDN thƣờng có độ tin cậy cao do có thể thu thập đƣợc tình hình thực tế của khách hàng qua báo cáo tài chính, thị trƣờng kinh doanh, internet, báo đài… Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp đa dạng vì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mọi ho ạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm cung ứng trên thị trƣờng, do vậy, hoạt động tín dụng doanh nghiệp đáp ứng đáp ứng cho nhu cầu vốn thiếu hụt đó để bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh, đầu tƣ đổi mới dây chuyền công nghệ, đầu tƣ dự án… Chính vì thế, tuỳ vào mục đích sử dụng vốn khác nhau mà nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là rất đa dạng. Thời hạn cho vay đa dạng: Tuỳ vào mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp mà thời hạn cho vay cũng khác nhau. Đối với các khoản vay bổ sung lƣu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thì thời gian cấp tín dụng không quá 1 năm. Đối với các 14 khoản vay vó quy mô lớn nhƣ vay vốn để mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xƣởng, đầu tƣ dự án,… để có đủ thời gian cho doanh nghiệp trả nợ đầy đủ cho ngân hàng thì thời gian cấp tín dụng thƣờng trên 1 năm.
Quy mô khoản vay KHDN thƣờng lớn nhắm đáp ứng nhu cầu vay vốn lƣu động hoặc đầu tƣ tài sản cố định, xây dựng nhà xƣởng, đầu tƣ dự án. Nguồn trả nợ từ hiệu quả sử dụng vốn: doanh nghiệp vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh tạo ra nguồn t hu, vì vậy NHTM yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải trả nợ từ chính các nguồn thu nhập chính các nguồn thu nhập từ hiệu quả sử dụng vốn vay này, bao gồm: doanh thu, lợi nhuận, khấu hao. Tuy nhiên, doanh nghiệp dễ gặp khó khăn trong việc trả nợ vay khi có sự biến động trong hoạt động kinh doanh nhƣ thua lỗ, nợ khó đòi cao, mất nguồn cung cấp…và biến động trên thị trƣờng tài chính nhƣ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế… Tỷ lệ dƣ nợ đƣợc áp dụng hình thức cho vay không có TSĐB lớn: do năng lực tài chính của doanh nghiệp lớn, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, năng lực quản lý tốt, có vị thế trên thị trƣờng…nên tạo đƣợc lòng tin với ngân hàng. Vì vậy nhiều doanh nghiệp có XHTDNB cao thƣờng đƣợc ngân hàng áp dụng hình thức cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo nhỏ hơn số tiền vay.
Chi phí cho vay doanh nghiệp cao: do quy trình cho vay phức tạp, thƣờng xuyên kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh, kiểm tra sử dụng vốn vay… 1. Phân loại tín dụng ngân hàng Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tín dụng ngân hàng, tùy theo mục đích nghiên cứu. Một số các tiêu chí phổ biến, đƣợc trình bày trong nhiều giáo trình nhƣ Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), Lê Văn Tề (2013) Nguyễn Minh Kiều (20 09) và trong các nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Văn Tuấn (2015), Nguyễn Thị Thu Đông (2012) gồm thời hạn cho vay, hình thức đảm bảo, đối tƣợng khách hàng. Dựa trên thời hạn tín dụng 15 Tín dụng ngắn hạn: Là những hoạt động tín dụng từ 1 năm trở xuống.
Các khoản tín dụng này thƣờng đƣợc dùng để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn lƣu động. Tín dụng trung hạn: là những hoạt động tín dụng có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm, phục vụ những nhu cầu liên quan đến việc đầu tƣ tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tƣ vào các dự án lớn có thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: Các hoạt động tín dụng có thời hạn trên 5 năm và thƣờng đƣợc sử dụng làm nguồn vốn cho các dự án dài hạn nhƣ các dự án đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất, có thời gian thu hồi vốn dài.