phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương: Chƣơng I: Tổng quan chất lượng tín dụng đối với khách hàng hộ gia đình, cá nhân thông qua tổ vay vốn tại ngân hàng thương mại. Chƣơng II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng hộ gia đình, cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thông qua tổ vay vốn. Chƣơng III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ gia đình, cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thông qua tổ vay vốn. 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN THÔNG QUA TỔ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp và là một trong những nhân tố chính cấu thành nên hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 - LTC/HĐNN8 ngày 24 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Nhà nước xác định: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Tại Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ban hành ngày 12 tháng 12 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ban hành ngày 15 tháng 6 năm 2004, khái niệm NHTM không được xác định cụ thể.
Tuy nhiên, khái niệm này đã được luật hóa cụ thể tại Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa 12 ban hành ngày 16 tháng 06 năm 2010, đồng thời mô hình hoạt động, chức năng của hệ thống các TCTD hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam cũng đã được quy định rõ. - Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. - Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một 5 hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. - Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, có thể nói một cách tổng quan NHTM là định chế tài chính mang tính trung gian và thực sự quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ vào hệ thống NHTM mà nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại với số lượng lớn, đồng thời đưa các nguồn vốn này vào lưu thông, cung cấp tài chính cho các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày nay, hoạt động của một NHTM còn được phát triển và mở rộng với việc cung cấp các dịch vụ - tiện ích về tài chính khác nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Hoạt động của ngân hàng thương mại 1. Huy động vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Vốn được ngân hàng huy động thông qua nhiều hình thức khác nhau như: - Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn và các loại tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. 6 - Vay vốn các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài. - Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
Sử dụng vốn Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại thu nhập cho ngân hàng. Nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng nếu được vận dụng tốt sẽ nâng cao chất lượng tài sản, tạo tiền đề giúp cho các ngân hàng có thể cạnh tranh trên thị trường. Một số hình thức sử dụng vốn thông thường của NHTM bao gồm: - Hoạt động cho vay: Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Hoạt động cho vay có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc,… - Hoạt động đầu tư: Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư.
Một số hình thức đầu tư chủ yếu mà các NHTM có thể tiến hành như đầu tư vào mua bán kinh doanh các chứng khoán, đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác hoặc đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Hoạt động thanh toán và ngân quỹ: Một trong những nhân tố cần đảm bảo trong quá trình hoạt động của ngân hàng đó là tính an toàn. Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do NHNN yêu cầu. Hoạt động khác Là trung gian tài chính, NHTM có rất nhiều lợi thế.
Một trong những lợi thế đó là thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, NHMT đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Mặt khác, hợp tác với 7 công ty chứng khoán, NHTM có thể tiến hành các nghiệp vụ trung gian như môi giới, tư vấn, chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các công ty. Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các nghiệp vụ của NHTM ngày càng trở nên đa dạng, có mối liên hệ chặt chẽ, bổ trợ cho nhau.
Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới chiến lược sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay đòi hỏi các NHTM phải thực hiện một cách đồng bộ, có hiệu quả các nghiệp vụ qua đó đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển vững mạnh. Tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế hàng hoá, tại một thời điểm luôn có nguồn vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi; đồng thời với đó sự thiếu hụt tạm thời vốn để sử dụng.
Điều này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi (thu nhập từ việc đưa nguồn vốn vào sử dụng). Đây chính là quan hệ tín dụng. Như vậy tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.
Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận có hoàn trả kèm theo lợi tức, 8 thoả mãn nhu cầu của cả hai bên. Trong các hình thức quan hệ tín dụng thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng. Đây là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, TCTD khác với pháp nhân và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán. Theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16 tháng 06 năm 2010, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
- Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua lại tài sản cho thuê theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản này.