phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, hình vẽ, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Trung Tâm Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Trung Tâm 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm DNVVN trong nền kinh tế hiện đại 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo The World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người). Ở Việt Nam hiện nay, tại Điều 3 Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về việc trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã dăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 7 Bảng 1.1: Phân loại DNVVN theo quy mô tổng nguồn vốn Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người Công Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến tỷ đồng đến người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 Thương mại 10 người 10 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến và dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP năm 2018) 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặc điểm được thể hiện thông qua những lợi thế và hạn chế của chúng. Lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Thành lập dễ dàng: bên cạnh các điều kiện về môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng cũng như quy định nới lỏng và khuyến khích của các văn bản pháp lý được ban hành theo thời gian gần đây, việc cần ít vốn đầu tư đã tạo điều kiện cho các DNVVN được thành lập dễ dàng và khá thuận lợi. Điều này đã tạo nhiều cơ hội đầu tư trong dân chúng. Thêm vào đó diện tích xây dựng và yêu cầu về cơ sở hạ tầng không cao, nhờ đó các DNVVN dễ dàng được xây dựng ở các thị trấn, đô thị và ngay ở một số vùng nông thôn, thường là những doanh nghiệp sản 8 xuất các sản phẩm tiêu dùng cá nhân, có thị trường rộng, huy động được các nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn vốn có tiềm ẩn trong dân chúng.
Thuận lợi trong quản lý điều hành: do quy mô nhỏ nên chi phí quản lý thấp và quan hệ giữa nhà quản trị và người lao động thường gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn. Nhà quản trị dễ dàng nắm bắt được tình hình thực tế về môi trường lao động cũng như điều kiện sinh hoạt của người lao động. Điều này rất hữu ích đối với việc tạo lập môi trường làm việc tốt nhất cho người lao động và cũng giúp phát huy tối đa năng suất máy móc thiết bị. Hơn nữa, do đặc trưng về quy mô nên các DNVVN có điều kiện giao tiếp tốt hơn, đặc biệt là giữa các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp và điều này giúp tránh được sự sai lệch do thông tin không phải truyền đi qua các kênh “phi chính thức và quan liêu” thường thấy trong các doanh nghiệp lớn.
Năng động và nhạy bén với sự biến động của thị trường: thông thường các DNVVN có tính năng động, linh hoạt hơn so với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất kinh doanh. Ở các nước phát triển phần lớn các doanh nghiệp có khả năng đổi mới trang thiết bị nhanh hơn mà không cần nhiều chi phí bổ sung với yêu cầu mới của thị trường. Thực tế cho thấy, các DNVVN này chỉ cần 1 đến 2 năm là có thể đổi mới toàn bộ hệ thống máy móc. Điều này hết sức quan trọng vì đôi khi thời gian vòng đời sản phẩm còn ngắn hơn cả thời gian tồn tại một hệ thống sản xuất ra nó.
Ở các nước đang phát triển khả năng này còn thấp hơn, nhưng đối với các DNVVN khả năng thay đổi đối tượng sản xuất vẫn dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn. Nhờ nhạy cảm với những biến động của thị trường và khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh, các DNVVN có thể tận dụng được các cơ hội kinh doanh tốt, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu thị trường. Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Khó khăn về tài chính: tuy có ưu thế tạo lập dễ dàng do vốn tự có không lớn, nhưng hầu hết các DNVVN thường gặp phải khó khăn là năng lực tài chính thấp, vì thế thiếu vốn là vấn đề thường xuyên và phổ biến đối với các doanh nghiệp 9 thuộc loại hình này. Đây là một hạn chế gây trở ngại rất lớn cho các DNVVN trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh.
Thêm vào đó, các doanh nghiệp loại hình này thường thiếu những chiến lược, những kế hoạch lâu dài, đặc biệt là các chiến lược về tài chính nên thường thụ động trước những đòi hỏi trong sản xuất kinh doanh. Trình độ hoạt động và quản lý thấp: một vấn đề thường trực khác của các DNVVN là thiếu các thông tin về thị trường. Cùng với đó khả năng dự báo cũng như xúc tiến thương mại thường rất hạn chế. Việc ngày càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào sản xuất kinh doanh đã góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh cao hơn, tuy nhiên năng lực cạnh tranh của phần lớn các DNVVN chưa cao, đa số các DNVVN chưa tạo được danh tiếng và thương hiệu trên thị trường.
Việc hạn chế về mặt thông tin, đặc biệt là những thông tin cập nhật về sự biến động của thị trường đã khiến cho các doanh nghiệp nhiều khi bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Đây là một hạn chế cần được sớm khắc phục của các DNVVN. Khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ tiên tiến: tuy không đòi hỏi công nghệ cao là một trong những lợi thế của các DNVVN. Nhưng các DNVVN thường bị hạn chế trước yêu cầu phải đổi mới trang thiết bị trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh.
Thuận lợi và khó khăn của DNVVN tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được Quốc hội thông qua vào ngày 12/6/2017. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2018. Triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với khu vực doanh nghiệp này. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy, khu vực doanh nghiệp này có những thuận lợi và vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng, có đến 70% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng (VCCI, 2018).
Thuận lợi của DNVVN khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Các ngân hàng thương mại tiến hành tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ các DNVVN dễ dàng tiếp cận ngườn vốn tín dụng, ngoài ra các ngân hàng xây dựng nền tảng kỹ thuật số, sử dụng quy trình xử lý tự động để nâng cao khả năng tiếp cận và cung cấp dịch vụ tài chính đến đại đa số DNVVN. Nghĩa là, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin liên kết với các DNVVN, triển khai và cung cấp các giải pháp quản lý dòng tiền để cho phép các DN có thể tự giao dịch với ngân hàng thông qua hệ thống này một cách nhanh chóng và thuận tiện với chi phí thấp, giúp các DNVVN nâng cao năng lực quản lý tài chính, đáp ứng các điều kiện khi tham gia chuỗi cung ứng của các đối tác lớn trong và ngoài nước. Các ngân hàng thương mại tích cực tìm kiếm và tiếp cận các nguồn vốn giá rẻ từ các chương trình, dự án ưu đãi của các tổ chức trong và ngoài nước để tài trợ cho các lĩnh vực kinh doanh đặc thù của các DNVVN được Chính phủ, Nhà nước chú trọng phát triển. Điều này giúp các DNVVN tiếp cận được nhiều nguồn tín dụng với giá cả hay chi phí hợp lý và nhận được nhiều ưu đãi.
Các ngân hàng thương mại thiết kế nhiều loại sản phẩm cho vay đặc thù, phù hợp với đối tượng khách hàng là DNVVN theo từng nhóm ngành nghề để có các giải pháp đáp ứng yêu cầu khách hàng một cách linh hoạt. Cải tiến, đơn giản hóa quy trình cho vay, yêu cầu thông tin cung cấp phù hợp với thực tế và có tư vấn, hướng dẫn chi tiết để các DNVVN có thể dễ dàng nắm bắt và thực hiện.