Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, DNNVV là xương sống của nền kinh tế và đang được các quốc gia dành sự quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về DNNVV.
Theo World Bank (2012), DNNVV có thể phân theo quy mô như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Những tiêu chí mà World Bank đưa ra để phân loại chủ yếu dựa vào số lao động bình quân; tài sản của doanh nghiệp; doanh thu hàng năm đạt được. Ngoài ra, dựa vào nhu cầu vốn tín dụng, World Bank còn đưa thêm tiêu chí để phân loại DNNVV là quy mô vay trung bình. Tiêu chí phân loại DNNVV của World Bank Quy mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 người < 100.000 USD Nhỏ <50 người < 3.000 USD Vừa <300 người < 15.000 USD Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < 10.000 USD Đối với các quốc gia tiên tiến) (Nguồn: World Bank, 2012) Theo Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ DNNVV: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác 8 định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.
Quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam Chỉ tiêu Tổng nguồn vốn Số lao động Doanh thu Doanh nghiệp Doanh thu ≤ 10 tỷ Dưới 3 tỷ Dưới 10 người siêu nhỏ đồng một năm Doanh nghiệp 50 tỷ đồng trở Số lượng lao động Doanh thu ≤ 100 tỷ nhỏ xuống ≤ 50 người đồng một năm Doanh nghiệp 100 tỷ đồng trở Số lượng lao động Doanh thu ≤ 300 tỷ vừa xuống ≤ 100 người đồng một năm Nguồn: Nghị định số 80/2021/NĐ-CP Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của mỗi quốc gia, định nghĩa và tiêu chí xác định DNNVV khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia khi xác định DNNVV đều dựa vào quy mô về: Vốn; lao động thường xuyên tham gia sản xuất - kinh doanh; doanh thu của doanh nghiệp hay đặc điểm ngành nghề kinh doanh. DNNVV như sau:“DNNVV là những cơ sở sản xuất - kinh doanh có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, năng lực sản xuất, tổng tài sản, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia”. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), xuất phát từ nguồn gốc hình thành, đặc điểm quy mô nguồn vốn và lao động, DNNVV có những đặc điểm sau: Thứ nhất, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả Với lượng vốn đầu tư giới hạn là 100 tỷ đồng và số lượng lao động tối đa là 300 người, DNNVV dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh, phát triển trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
Với số lượng lao động không nhiều, diện tích mặt bằng sản xuất kinh doanh hạn chế với các điều kiện làm việc đơn giản, có thể bắt đầu hoạt động ngay khi có ý tưởng sản xuất. Do nhu cầu vốn không lớn, quy mô sản xuất không cao và chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ quay vòng để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh 9 hiệu quả. Thứ hai, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Các DNNVV chủ yếu cung cấp các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho xã hội, trong đó thường là các sản phẩm tiêu dùng và truyền thông. Vì dễ thành lập nên các DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp.
và hoạt động dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể. Có thể nói các DNNVV có khả năng thỏa mãn mọi nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ dù rất nhỏ của các tầng lớp trong xã hội. Thứ ba, DNNVV có tính năng động cao, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường DNNVV có đặc điểm là gần gũi với khách hàng, luôn hướng đến thị trường hiểu và biết nhu cầu của khách hàng vì vậy có thể nói đây là lực lượng phản ánh tín hiệu thị trường tốt nhất. Trước những thay đổi của thị trường, các DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít, quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh.
Bên cạnh đó là bộ máy quản lý gọn nhẹ, cơ chế tổ chức đơn giản giúp việc chuyển đổi sản phẩm dịch vụ nhanh chóng hơn so với các doanh nghiệp lớn. DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên chỉ cần không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thì nó s chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường. Thứ tư, DNNVV có năng lực kinh doanh còn hạn chế Do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm công nghệ tiên tiến. Vốn và tài sản ít, tỷ lệ vốn chủ sở hữu hạn chế nên các doanh nghiệp khó tiếp cận với nguồn vốn vay của ngân hàng.
Với việc thiếu vốn dẫn tới sử dụng các công nghệ lạc hậu làm chất lượng không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém. Vì vậy, khiến DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm 10 do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường. Thêm vào đó, DNNVV cón có năng lực quản lý còn thấp: Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế.
Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo về hoạt động kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức về mặt kinh tế - xã hội và kỹ năng về quản trị kinh doanh. Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều khâu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; các quyết định, các chỉ tiêu.
đến với người lao động một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Mô hình quản lý trực tiếp được áp dụng trong các DNNVV nên các quyết định thường được đưa ra nhanh chóng. Tuy nhiên, một bộ phận Ban lãnh đạo của DNNVV chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt là các kiến thức về kinh tế thị trường, luật pháp, quản trị kinh doanh do vậy trình độ quản lý còn hạn chế. Việc đưa ra các quyết định nhanh chóng khi chưa có sự nghiên cứu về thị trường thường dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp khi các quyết định đưa ra thiếu chính xác.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất DNNVV tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp Do các DNNVV tham gia kinh doanh ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế với đa dạng các sản phẩm nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều cùng miền khác nhau. Mặt khác, do đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ cao nên có thể sử dụng được cả lao động ở các 11 vùng sâu, vùng xa, vùng chưa kinh tế chưa phát triển. Đặc biệt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trong khi các doanh nghiệp lớn thường phải sa thải nhân công để cắt giảm chi phí thì các DNNVV, với tính chất linh hoạt và năng động của mình, có thể thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường, có thể đứng vững mà không phải cắt giảm nhân công, hoặc có thể nhanh chóng thu hút lại lực lượng lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi. Thứ hai, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở hầu hết các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn.
Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì vậy, DNNVV được xem như thanh giảm sốc cho nền kinh tế trước những biến động lớn. Với lợi thế về vốn đầu tư ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp. DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng được mọi nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế.
Vì thế mức độ đóng góp của các DNNVV vào tổng sản lượng của nền kinh tế là rất lớn.