Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm 1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNVVN có thể chia thành 3 loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ (micro). Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
[17] Ở Việt Nam để giải quyết cho phần định nghĩa trên, công văn số 68/CP-KTN ban hành ngày 20/6/1998.Theo đó, DNVVN là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ động (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa USD/VND tại thời điểm ban hành công văn này). Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNVVN tại Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Trên thực tế, tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Vì vậy, tiếp sau đó chính phủ ban hành nghị định số 90/2001/NĐ- CP.
Nghị định định nghĩa DNVVN như sau: “DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, được đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.”Các doanh nghiệp siêu nhỏ được qui định là có từ 1 đến 9 công nhân. Doanh nghiệp có từ 10 đến 49 công nhân được coi là doanh nghiệp nhỏ. [7] Tuy nhiên sau thời gian dài cải cách theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là Doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. [9] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Tiêu chí xác định quy mô của DNVVN Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Tổng nguồn Số lao Khu vực Số lao động động nguồn vốn vốn động từ trên I.
Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 tỷ 10 người 20 tỷ đồng 200 người nghiệp và người đến đồng đến 100 trở xuống trở xuống đến 300 thủy sản 200 người tỷ đồng người từ trên II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ 10 người 20 tỷ đồng 200 người nghiệp và người đến đồng đến 100 trở xuống trở xuống đến 300 xây dựng 200 người tỷ đồng người III. Thương từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 10 người 10 tỷ đồng mại và dịch người đến đồng đến 50 người đến trở xuống trở xuống vụ 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) 1.2 Chất lượng tín dụng 1.1 Tín dụng Tín dụng (Credit) là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức khi đến hạn. Như vậy, tín dụng có thể hiểu một cách đơn giản là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng nhiều hình thức như: cho vay, bán chịu hàng hóa, chiết khấu, bảo lãnh,.
được sử dụng trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó đã thỏa thuận.[1] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Chất lượng tín dụng Khái niệm Thực tế có sự thống nhất trong 3 yếu tố: giá cả, chất lượng và lượng bán hàng, yếu tố chất lượng là quan trọng nhất. Khi chất lượng được nâng lên đồng thời giá thành không thay đổi, kết quả là khối lượng hàng hóa bán ra được nhiều hơn. Từ đó, để tồn tại và phát triển, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải cải thiện và nâng cao chất lượng. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000, thuật ngữ “Chất lượng” được định nghĩa là khả năng thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan khác của tập hợp các đặc tính vốn có của sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình.
Một trong những sản phẩm của TCTD và NHTM là tín dụng. Đây là loại hàng hóa mang tính xã hội cao, chỉ một biến động của nó về mặt giá trị trên thị trường là có thể ảnh hưởng đến nhiều hoạt động của nền kinh tế xã hội và hoạt động kinh doanh của các NHTM. Xét góc độ ngân hàng, chất lượng tín dụng ngân hàng không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, mà còn phải đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước nói chung, của địa phương nói riêng trên cơ sở khả năng thu hồi được gốc lãi đúng hạn như đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. Ngoài ra, Chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung trong đó có nội dung quan trọng và có tính lượng hóa nhất là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Theo quan điểm thông thường của các ngân hàng thương mại Việt Nam và trong một số trường hợp theo nghĩa hẹp khi nói đến chất lượng tín dụng, người ta chỉ nói đến tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ này càng cao có nghĩa là chất lượng tín dụng kém và ngược lại. Theo thông lệ quốc tế, nếu tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% và tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng dư nợ quá hạn thấp thì được coi là tín dụng có chất lượng tốt, trên mức 5% thì được coi là nợ có vấn đề. [4] Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và có tác động rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Thực tế cho thấy nguyên nhân của hầu hết các cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra đều bắt nguồn từ ngân hàng.
Chính vì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng luôn là mục tiêu , đồng thời là nhân tố quan trọng nhất để tồn tại và phát triển của mỗi NHTM trong nền kinh tế đầy cơ hội, song cũng chứa đựng đầy thách thức và rủi ro. Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng là rất cần thiết. Đặc điểm: Chất lượng tín dụng trước tiên phải phù hợp với mục đích sử dụng vốn vay của người vay, phù hợp với lãi suất và kỳ hạn trả nợ, thủ tục đơn giản, thuận tiên thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng. Chất lượng tín dụng còn thể hiện ở sự thỏa mãn cơ hội kinh doanh về các khía cạnh không gian, thời gian và quy mô cho khách hàng.
Không gian: Tín dụng ngân hàng phải luôn gần gũi với khách hàng và có sự thuận lợi trong giao dịch Thời gian: Tín dụng ngân hàng phải thỏa mãn được thời điểm kinh doanh của khách hàng khi giải ngân và khi hoàn vốn. Quy mô: Tín dụng ngân hàng bảo đảm yêu cầu về khối lượng mà khách hàng mong muốn. Ngoài các yếu tố cốt lõi là cung ứng vốn cho khách hàng, chất lượng tín dụng còn thể hiện ở nhiều yếu tố phụ trợ như tiết kiệm chi phí đi lại, giao dịch thuận tiện, điều kiện vay vốn hợp lý.để khách hàng dễ dàng đáp ứng, nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ về việc sử dụng vốn có hiệu quả. Chất lượng tín dụng là nhân tố xuyên suốt trong quả trình hoạt đọng của tín dụng ngân hàng.
Để bảo đảm tín dụng luôn có chất lượng, đòi hỏi trong quá trình xét duyệt cho vay, cán bộ tín dụng khi lựa chọn khách hàng, lựa chọn đối tượng cho vay cần thẩm định, phân tích các mặt như tư cách, khả năng tài chính,. để từ đó đi đến quyết định cho vay, mức cho vay vừa có thể hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng vừa nằm trong giới hạn phạm vi cho phép. Mặt khác, về phương thức cho vay, thời gian cho vay cũng phải xác định để khách hàng có điều kiện sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ ngân hàng cả gốc, lãi đúng theo kỳ hạn trả nợ. Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cũng cần có sự lựa chọn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 phương pháp thu nợ, thu lãi, việc xử lý những khoản tín dụng có vấn đề sau khi cho vay, đến hạn mà người vay chưa trả.
Ngoài ra, chất lượng tín dụng , không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan mà còn chịu sự tác động rất lớn vào những điều kiện khách quan như tác động của kinh tế các nước trong khu vực và quốc tế, hoàn cảnh trong nước về môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, môi trường pháp luật hay sự thay đổi về giá cả. Đó chính là những nhân tố tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng. Những vấn đề nêu trên cho thấy để đảm bảo chất lượng tín dụng là một trong những vấn đề phức tạp. Rủi ro trong kinh doanh tín dụng luôn là vấn đề các tổ chức tín dụng quan tâm.
Điều này cho thấy chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối và năng động, thường xuyên biến đổi và rất nhạy cảm với nhiều tác động trong nền kinh tế, xã hội.2 Những bài học kinh nghiệm đối với việc nâng cao chất lượng tín dụng NHTM của một số nước trên thế giới 1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc Trung Quốc là một nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội,.Sau gần 30 năm thực hiện cải cách và mở cửa, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước trở thành nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. Để đạt được những kết quả như trên, Trung Quốc đã sử dụng nhiều giải pháp tích cực, có hiệu quả, trong đó hoạt động tín dụng của NHTM có vai trò quan trọng trong việc huy động như: - Sử dụng lãi suất huy động một cách linh hoạt và mềm dẻo - Phát triển đa dạng các tổ chức - tiền tệ, cải cách và nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM: Trung Quốc đã không ngừng mở rộng và hoàn thiện mạng lưới hệ thống NHTM, khu vực tài chính ngân hàng của Trung Quốc chủ yếu do 4 ngân hàng: NH Trung Quốc, NH xây dựng Trung Quốc, NH công thương Trung Quốc và NH nông nghiệp Trung Quốc điều hành với các chi nhánh trải rộng khắp trên lãnh thổ Trung Quốc.