CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Tín dụng bán lẻ của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Căn cứ khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 quy định như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Theo chương 5 Tổng quan về hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại quy định tại cuốn Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, khái niệm tín dụng ngân hàng được hiểu theo một trong các cách sau: “Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng của NHTM. Thứ hai, tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tín dụng bằng tiền giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay ứng trước vốn bằng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. Trong cuốn “Quản trị Marketing”, Philip Kotler đã định nghĩa: “Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không mang tính thương mại”.
Theo khoản 8, Điều 13 Nghị định 23/2007/NĐ- Chính phủ ngày 12/2/2007 quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Còn trong giáo trình Marketing lý thuyết của Đại học Ngoại Thương lại đưa ra khái niệm: Hoạt động bán lẻ bao gồm tất cả các hoạt động phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cá nhân, phi thương mại. Từ đó có thể suy ra, cấp tín dụng bán lẻ là một hoạt động của tổ chức tín dụng, với người tiêu dùng cuối cùng là cá nhân, hộ kinh doanh trong đó ngân hàng sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay trong một thời gian nhất định được thỏa thuận theo hợp đồng theo nguyên tắc có hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi 5 đến hạn. Các đặc điểm của tín dụng bán lẻ Đặc điểm của tín dụng bán lẻ: + Đối tượng khách hàng: lớn, đa dạng.
Do tín dụng bán lẻ hướng đến người tiêu dùng hoặc người dùng cuối cùng nên số lượng khách hàng lớn, rộng và có sự phân hóa theo nhiều phân khúc khác nhau. + Số lượng giao dịch lớn nhưng giá trị nhỏ nên chi phí bình quân mỗi giao dịch khá cao. Đối tượng của bán lẻ là các cá nhân và hộ kinh doanh trong nền kinh tế nên số tiền cấp tín dụng thường không lớn nhưng phải đầu tư và sử dụng nguồn lực tương tự như các giao dịch dành cho các đối tượng khác. Vì vậy, chi phí bình quân cho mỗi giao dịch tín dụng bán lẻ thường cao hơn các giao dịch tín dụng dành cho các đối tượng khác trong nền kinh tế.
+ Tín dụng bán lẻ luôn cải tiến để phù hợp với nhu cầu đa dạng và gia tăng của khách hàng cùng với đó là các tiến bộ công nghệ. Tín dụng bán lẻ hướng tới số lượng lớn khách hàng trong nền kinh tế nên độ phủ sóng và mức độ ảnh hưởng của đối tượng này lớn và nhu cầu cũng biến đổi theo xu hướng của thị trường và định hướng của cơ quan chức năng. Chính vì vây, Ngân hàng phải không ngừng cải tiến về chất lượng hoạt động tín dụng bán lẻ. Đồng thời để tối thiểu hóa chi phí cho một giao dịch tín dụng bán lẻ, Ngân hàng phải có các giải pháp nâng cao và đưa vào áp dụng các công nghệ hiện đại phục vụ công việc hàng ngày.
+ Hoạt động kinh doanh ngân hàng bán lẻ tạo được lợi thế lan tỏa hình ảnh ngân hàng trên diện rộng và có độ rủi ro thấp. Do đối tượng khách hàng của tín dụng bán lẻ có số lượng lớn và rộng khắp các địa bàn khác nhau nên Ngân hàng có chất lượng tín dụng bán lẻ tốt thì Ngân hàng đó sẽ mang hình ảnh, sức ảnh hưởng tới khách hàng càng nhiều và khách hàng sẽ chủ động tìm đến Ngân hàng để sử dụng các dịch vụ khác nhau. Khách hàng càng sử dụng dịch vụ nhiều của Ngân hàng thì Ngân hàng càng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng làm cho rủi ro khi cấp tín dụng được hạn chế. Phân loại tín dụng bán lẻ Theo Chương 4, Giáo trình Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân (2014), nghiệp vụ tín dụng được phân loại thành các tiêu thức khác nhau sau: - Phân loại theo cách thức xách định số tiền vay: Tín dụng từng lần, hạn mức.
- Phân loại theo cách thức cấp tín dụng: chiết khấu, cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán,. 6 - Phân loại theo thời gian: tín dụng ngắn hạn có thời hạn từ 12 tháng trở xuống; tín dụng trung hạn từ trên 1 năm đến 5 năm; tín dụng dài hạn trên 5 năm. - Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: tín dụng sản xuất kinh doanh và tín dụng tiêu dùng. - Phân loại theo khách hàng: tín dụng cho chính phủ, các định chế tài chính, doanh nghiệp/hộ kinh doanh, cá nhân.
- Phân loại theo tài sản bảo đảm: tín dụng cầm cố/thế chấp tài sản của khách hàng, tài sản hình thành từ vốn vay, bảo lãnh. - Phân loại theo ngành kinh tế: tín dụng công nghiệp, nông nghiệp,. Trong phạm vi của nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung vào các tiêu thức để phân chia tín dụng bán lẻ như sau: • Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng, tín dụng bán lẻ bao gồm: - Tín dụng ngắn hạn: thời gian cấp tín dụng tối đa 01 năm, được sử dụng để bù đắp thiếu vốn tạm thời trong hộ kinh doanh và cá nhân. - Tín dụng trung hạn: thời gian cấp tín dụng trên 01 năm và tối đa 05 năm.
Loại này chủ yếu đáp ứng cho nhu cầu mua sắm, đầu tư, xây dựng cơ bản về tài sản cá nhân hoặc tài sản cố định trong các hộ kinh doanh. - Tín dụng dài hạn: thời gian cấp tín dụng trên 05 năm. Tương tự như mục đích sử dụng của các khoản tín dụng trung hạn nhưng có nhu cầu sử dụng vốn trong khoảng thời gian dài. • Căn cứ vào mức độ tín nhiệm, tín dụng bán lẻ được phân chia như sau: - Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tài sản (của bên vay hoặc bên thứ ba).
Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không đủ khả năng hoàn trả nợ đúng hạn. - Tín dụng không tài sản bảo đảm là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho khách hàng truyền thống, khả năng tài chính mạnh và hệ số tín nhiệm cao. • Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng, tín dụng bán lẻ bao gồm: - Cho vay: Là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để khách hàng sử dụng vào mục đích và thời gian theo thỏa thuận của đôi bên với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, bao gồm: Cho vay từng lần, Cho vay theo hạn mức tín dụng, Cho vay theo hạn mức thấu chi, Cho vay trả góp, Cho vay hợp vốn (Đồng tài trợ), Cho vay luân chuyển.
7 - Chiết khấu: Nếu các giấy tờ có giá (trái phiếu, thương phiếu.) chưa đáo hạn thì ngân hàng có thể cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá của giấy tờ có giá trừ đi lãi chiết khấu và phí hoa hồng. - Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán. - Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng tự bỏ tiền ra mua tài sản cố định cho khách hàng thuê với những điều kiện nhất định và có thời hạn cam kết sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê và có lãi.
Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó. - Các hình thức cấp tín dụng khác: Thẻ ghi nợ, bao thanh toán, L/C,… 1. Vai trò của tín dụng bán lẻ trong nền kinh tế - Đối với người dân: + Tín dụng đảm bảo cho nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân. Hoạt động tín dụng cũng hình thành vốn lưu động, vốn cố định cho các cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh, góp phần không nhỏ vào việc cung cấp nguồn tiền nhàn rỗi đến đúng đối tượng, giúp người dân vượt qua những khó khăn tài chính, giải quyết những vấn đề liên quan đến kinh tế, hỗ trợ mua xe, xây dựng nhà cửa, kinh doanh nhỏ lẻ, góp phần nâng cao thu nhập, đảm bảo đời sống.
+ Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Hoạt động tín dụng của ngân hàng ra đời có vai trò cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế. Thông qua việc huy động tiền gửi tiết kiệm từ nguồn tiền nhàn rỗi của người dân, ngân hàng tập hợp lại thành nguồn vốn lớn, cho các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh để mua vật tư, nhà xưởng, thuê nhân công sản xuất, kinh doanh. Việc cung ứng vốn kịp thời của tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động cho người kinh doanh, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh liền mạch, không bị gián đoạn, đồng thời tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh phát triển và mở rộng quy mô.