CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TIẾNG NÓI VÀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ NHIỄU TRONG TIẾNG NÓI 1. Tổng quan về tiếng nói 1. Thông tin tiếng nói Tiếng nói là dạng thông tin tự nhiên và phổ biến nhất đối với con người. Từ khi lịch sử con người hình thành, con người đã biết sử dụng tiếng nói làm phương tiện giao tiếp chính, trải qua hàng triệu năm trong quá trình tiến hóa và phát triển của loài người, tiếng nói vẫn luôn giữ vai trò là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất.
Do đó tiếng nói là phương tiện giao tiếp cơ bản của con người, nó cũng là loại hình thông tin cơ bản và phổ biến nhất trong các hệ thống viễn thông từ trước đến nay. Kể từ khi máy tính và các ứng dụng của máy tính được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi, người ta cố gắng để máy tính không chỉ có thể xử lý nhanh, nhiều mà quan trọng hơn nó đủ thông minh để thay thế con người. Một trong các tiêu chí quan trọng để đánh giá độ thông minh của máy tính chính là khả năng hiểu được ngôn ngữ tự nhiên của con người trong đó có tiếng nói. Tuy nhiên, tiếng nói mang nhiều thông tin, ngoài thông tin ngôn ngữ còn cả các thông tin phi ngôn ngữ như thông tin về người nói, thông tin về sắc thái tình cảm khi nói… 1.
Tín hiệu và tín hiệu tiếng nói 1. Tín hiệu tiếng nói Âm thanh là các dao động cơ học lan truyền trong vật chất như các sóng. Âm thanh, giống như nhiều sóng, được đặc trưng bởi tần số, bước sóng, chu kỳ, biên độ và vận tốc lan truyền (tốc độ âm thanh). Đối với thính giác của người, âm thanh thường là sự dao động, trong dải tần số từ khoảng 20 Hz - 20 kHz, của các phân tử không khí, và lan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 truyền trong không khí, va đập vào màng nhĩ, làm rung màng nhĩ và kích thích bộ não.
Tiếng nói là loại âm thanh phổ biến nhất trong truyền thông. Dải tần tiếng nói trong khoảng 300 Hz - 3400 Hz. Tiếng nói bao gồm hai dạng hữu thanh và vô thanh. Âm hữu thanh có đặc tính tuần hoàn còn âm vô thanh tương tự nhiễu.1: Dạng sóng tiếng nói một câu tiếng Việt Hình 1.2: Tiếng nói hữu thanh 1.
Tín hiệu Tín hiệu(signal) dùng để chỉ một đại lượng vật lý mang tin tức. Về mặt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 toán học, ta có thể mô tả tín hiệu như một hàm theo biến thời gian, không gian hay các biến độc lập khác. Chẳng hạn như, hàm: x(t ) 20t 2 mô tả tín hiệu biến thiên theo biến thời gian t. Hay một ví dụ khác, hàm: s( x, y) 3x 5xy y 2 mô tả tín hiệu là hàm theo hai biến độc lập x và y, trong đó x và y biểu diễn cho hai tọa độ trong mặt phẳng.
Hai tín hiệu trong ví dụ trên về lớp tín hiệu được biểu diễn chính xác bằng hàm theo biến độc lập. Tuy nhiên, trong thực tế, các mối quan hệ giưa các đại lượng vật lý và các biến độc lập thường rất phức tạp nên không thể biểu diễn tín hiệu như trong hai ví dụ vừa nêu trên.3: Tín hiệu tiếng nói Lấy ví dụ tín hiệu tiếng nói – đó là sự biến thiên của áp suất không khí theo thời gian. Chẳng hạn khi ta phát âm từ “away”, dạng sóng của nó được biểu diễn như hình trên. Nguồn tín hiệu Tất cả các tín hiệu đều do một nguồn nào đó tạo ra, theo một cách thức nào đó.
Ví dụ tín hiệu tiếng nói được tạo ra băng cách ép không khí đi qua dây thanh âm. Một bức ảnh có được bằng cách phơi sáng một tấm phim chụp một cảnh/đối tượng nào đó. Quá trình tạo tín hiệu như vậy thường liên quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đến một hệ thống, hệ thống này đáp ứng lại một kích thích nào đó. Trong tín hiệu tiếng nói, hệ thống là hệ thống phát âm, gồm môi, răng, lưỡi, dây thanh…Kích thích liên quan đến hệ thống được gọi là nguồn tín hiệu.
Như vậy ta có nguồn tiếng nói, nguồn ảnh và các nguồn tín hiệu khác. Hệ thống và xử lý tín hiệu Hệ thống là một thiết bị vật lý thực hiện một tác động nào đó lên tín hiệu.Ví dụ, bộ lọc dùng để giảm nhiễu trong tín hiệu mang tin được gọi là một hệ thống. Khi ta truyền tín hiệu qua một hệ thống, như bộ lọc chẳng hạn, ta nói rằng đã xử lý tín hiệu đó. Trong trường hợp này, xử lý tín hiệu liên quan đến lọc nhiễu ra khỏi tín hiệu mong muốn.
Xử lý tín hiệu là ý muốn nói đến một loạt các công việc hay các phép toán được thực hiện trên các tín hiệu nhằm đạt mục đích nào đó, như là tách tin tức chứa bên trong tín hiệu hoặc là truyền tín hiệu mang tin từ nơi này đến nơi khác. Ở đây ta cần lưu ý đến định nghĩa hệ thống, nó không chỉ đơn thuần là thiết bị vật lý mà còn là phần mềm xử lý tín hiệu hoặc là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm. Ví dụ khi xử lý số tín hiệu bằng mạch logic, hệ thống xử lý ở đây là phần cứng. Khi xử lý bằng máy tính số, tác động lên tín hiệu bao gồm một loạt các phép toán thực hiện bởi chương trình phần mềm.
Khi xử lý bằng các bộ vi xử lý - hệ thống bao gồm kết hợp cả phần cứng và phần mềm, mỗi phần thực hiện các công việc riêng nào đó. Phân loại tín hiệu Các phương pháp ta sử dụng trong xử lý tín hiệu phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của tín hiệu. Có những phương pháp riêng áp dụng cho một loại tín hiệu nào đó. Do vậy, trước tiên ta cần xem qua cách phân loại tín hiệu liên quan đến những ứng dụng cụ thể.
Chúng ta có thể phân tín hiệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thành các loại : - Tín hiệu nhiều hướng và tín hiệu đa kênh - Tín hiệu liên tục và tín hiệu rời rạc - Tín hiệu biên độ liên tục và tín hiệu biên độ rời rạc - Tín hiệu xác định và tín hiệu ngẫu nhiên 1. Quá trình tạo tiếng nói a. Bộ phận cung cấp làn hơi: Bao gồm hai lá phổi, được sự tác động của các cơ ngực, sườn, cơ hoành cách mô, cơ bụng. Làn hơi đưa lên quyết định cường độ của âm thanh.4: Bộ phận cung cấp làn hơi Bộ phận phát thanh vocal cord là thanh đới (dây thanh âm) nằm trong thanh quản: Do áp lực của làn hơi từ phổi đưa lên, thanh đới - với những độ căng khác nhau và hình dạng khác nhau - mở ra và đóng lại nhanh chậm khác nhau, cắt làn hơi thành những sóng âm có tần số khác nhau, tạo thành những âm thanh có cao độ khác nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thanh đới ở phụ nữ và trẻ em ngắn và mỏng hơn ở đàn ông, nên giọng nữ và trẻ em cao hơn giọng đàn ông.5: Dây thanh âm b. Bộ phận dẫn âm: Gồm chủ yếu là cuống họng (yết hầu) thông với đường miệng hoặc đường mũi. Các chấn động âm thanh do thanh đới tạo ra, được bộ phận dẫn âm gom lại và dẫn ra ngoài theo hai hướng miệng hoặc mũi. Cuống họng và miệng chủ yếu đóng vai trò truyền âm.
Bộ phận phát âm: Là miệng với các hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới, vòm miệng. Chúng ta nhận ra được lời nói, tiếng hát có nghĩa là nhờ vào hoạt động của các cơ năng trên. Khi nói đến khẩu hình là nói đến hình thể, hình dáng, cả bên ngoài lẫn bên trong của miệng do hoạt động phối hợp của môi, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm tạo ra khi phát âm. Mở khẩu hình không đúng cách sẽ ảnh hưởng không chỉ đến chất lượng âm thanh, mà nhất là ảnh hưởng đến việc rõ lời, phát âm đúng.
Bộ phận phát âm đóng vai trò như một hộp cộng hưởng âm thanh. Nhờ sự biến đổi của bộ phận phát âm mà âm thanh được cộng hưởng, triệt tiêu ở các tần số khác nhau dẫn tới âm thanh được phát ra nghe khác nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.6: Cấu trúc cơ quan phát âm Hình 1.7: Hình dáng cơ quan phát âm thay đổi trong quá trình phát âm d. Biễu diễn bộ phận phát âm: Có thể biểu diễn cơ quan phát âm bằng một mô hình gần đúng gồm các hình trụ có độ dài bằng nhau nhưng có đường kính khác nhau.
Trong quá trình phát âm người ta thấy rằng hình dáng cơ quan phát âm thay đổi rất chậm , do đó trong một khoảng thời gian ngắn (trong một âm vị) có thể xem như sự thay đổi là không đáng kể, nhưng chúng sẽ thay đổi rất lớn từ âm vị này sang âm vị khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.8: Mô hình hóa cơ quan phát âm Hình 1.9: Biểu diễn mô hình hóa cơ quan phát âm đầy đủ bằng máy tính 1. Cơ quan thính giác Để cảm thụ được tiếng nói, con người sử dụng cơ quan thính giác. Cơ quan thính giác con người có thể cảm thụ được các tần số âm thanh trong khoảng 15 Hz - 20.
Âm thanh với tần số cao hơn được gọi là siêu âm, thấp hơn là hạ âm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.10: Mô hình cơ quan thính giác Người nghe có thể phát hiện sự thay đổi độ ồn âm thanh khi tín hiệu bị thay đổi khoảng 1dB (biên độ thay đổi 12%). Mặc dù dải nghe của con người thông thường từ 20Hz đến 20kHz, độ nhạy âm lớn nhất từ 1kHz đến 4kHz. Khả năng xác định hướng nguồn âm tốt nhưng xác định khoảng cách đến nguồn âm kém.
Con người nghe âm thanh theo 24 băng cơ bản, tương ứng với thang tần số Bark như trong hình 1. Trong mỗi băng con, con người không cảm nhận được sự khác biệt.11: Thang tần số Bark Khả năng cảm thụ của cơ quan thính giác được giới hạn bởi ngưỡng nghe (hình 1.11), cũng như không nghe được âm thanh bị che bởi các mặt nạ trên miền thời gian (hình 1.12) và tần số (hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.12: Ngưỡng nghe Hình 1.13: Mặt nạ thời gian (che âm thanh liền trước và liền sau) Hình 1.14: Mặt nạ tần số (che âm thanh có tần số khác nhau phát cùng thời điểm) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.