CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NHTM 1. KIỂM TOÁN NỘI BỘ NHTM 1. Kiểm toán nội bộ 1. Khái niệm kiểm toán nội bộ Năm 1978, IIA chính thức đưa ra định nghĩa về KTNB trong các Chuẩn mực thực hành KTNB chuyên nghiệp (Standards for the Professional Practice of Internal Auditing).
Theo IIA: “KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó. Đó là một loại hình kiểm soát được thực hiện bằng cách kiểm tra và đánh giá sự đầy đủ và tính hiệu lực của các loại hình kiểm soát khác. Mục tiêu của KTNB là giúp đỡ cho các thành viên của tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ; Để đạt được mục tiêu này, KTNB cung cấp cho các thành viên của tổ chức các phân tích, thẩm định, kiến nghị, tư vấn và các thông tin liên quan tới các hoạt động đang được xem xét. Mục tiêu kiểm toán bao gồm việc đề xuất khung kiểm soát hiệu quả ở mức chi phí hợp lý”.
[11] Năm 1992, phạm vi hoạt động của KTNB một lần nữa được mở rộng trong bản báo cáo của COSO về gian lận tài chính. Theo COSO phạm vi hoạt động của KTNB không chỉ bao gồm kiểm toán kế toán truyền thống mà còn bao gồm những vấn đề như năng lực của các nhân viên, các nhà quản lí, những mục tiêu của doanh nghiệp đã đạt được ở mức độ nào và các rủi ro phát sinh được giám sát như thế nào. Kết quả là các KTVNB bắt đầu trở thành một đối tác của các nhà quản lí nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức. [12] Cùng với quan điểm với IIA và COSO về KTNB còn có quan điểm khác của Hiệp hội kế toán viên công chứng Anh (ACCA): “KTNB là hoạt động kiểm tra và đánh giá được thiết lập trong một tổ chức nhằm mục đích quản trị nội bộ đơn vị.
KTNB có chức năng kiểm tra, đánh giá sự phù hợp và hiệu lực của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ” [5]. Với sự phát triển không ngừng của hoạt động kiểm toán nói chung, KTNB nói TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 riêng và yêu cầu quản lí trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi, đến tháng 6 năm 1999, Hội đồng giám đốc của IIA đã thông qua một định nghĩa mới về KTNB. Cho tới nay, định nghĩa này vẫn được sử dụng phổ biến trong các tài liệu của IIA và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo đó, KTNB được định nghĩa: “KTNB là hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập và khách quan, được thiết kế để gia tăng giá trị và cải tiến hoạt động của một tổ chức.
KTNB hỗ trợ cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua phương pháp tiếp cận có hệ thống và có nguyên tắc nhằm đánh giá và tăng cường tính hiệu quả của qui trình quản lí rủi ro, kiểm soát và quản trị đơn vị” [11]. Nguyên tắc kiểm toán nội bộ Có 3 nguyên tắc cơ bản mà KTNB phải tuân thủ là nguyên tắc độc lập, khách quan và chuyên nghiệp. Yêu cầu về độc lập của KTNB thể hiện ở mặt tổ chức, KTNB phải có đủ thẩm quyền để thực hiện các mục tiêu kiểm toán của mình. Muốn vậy, bộ máy KTNB phải chịu trực thuộc một người đủ quyền lực để ủng hộ sự độc lập của KTNB, để đảm bảo một phạm vi kiểm toán rộng rãi, bảo đảm sự xem xét đầy đủ đối với báo cáo kiểm toán và có những biện pháp thích đáng trên cơ sở các kiến nghị của KTV.
Yêu cầu khách quan đòi hỏi KTNB cần duy trì một thái độ độc lập trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán. KTV không được tham gia vào việc thiết kế, cài đặt hay vận hành các hoạt động của đơn vị để đảm bảo tính khách quan. Yêu cầu về chuyên nghiệp thể hiện kiểm toán viên nội bộ phải là người có kiến thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cương vị, các công việc chuyên môn khác của đơn vị. Phạm vi kiểm toán nội bộ Phạm vi KTNB rất rộng bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động.
Kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm tra và xác nhận hoặc đưa ra ı kiến về tính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 trung thực và hợp lí của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán tuân thủ là kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện. Kiểm toán hoạt động là kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp, hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại Kiểm toán nội bộ là một quá trình hoạt động một cách có hệ thống, có kỷ luật và độc lập của những người có thẩm quyền trong ngân hàng nhằm kiểm tra, đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của ngân hàng, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lí rủi ro, kiểm soát nội bộ và quản trị điều hành của ngân hàng. Kiểm toán nội bộ cung cấp dịch vụ tư vấn và đảm bảo một cách khách quan và độc lập được thiết lập trong nội bộ ngân hàng nhằm tăng cường và cải thiện chất lượng hoạt động ngân hàng. Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại Bộ máy KTNB trực thuộc Ban Kiểm soát và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kiểm soát. Căn cứ vào quy mô, mức độ, phạm vi và đặc điểm hoạt động của NHTM và trên cơ sở đề nghị của Ban Kiểm soát, HĐQT quyết định về tổ chức bộ máy KTNB; chế độ lương, thưởng và phụ cấp trách nhiệm của các chức danh thuộc bộ máy KTNB.
Bộ máy kiểm toán nội bộ có thể được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo ngành dọc theo mô hình phân tán hoặc tổ chức theo mô hình tập trung tùy theo quy mô, mức độ, phạm vi và đặc thù hoạt động của NHTM. KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHTM 1. Những vấn đề chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm Tín dụng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa hai chủ thể là bên cho vay (ngân hàng hoạc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp hoặc các chủ thể khác). Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán. Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro gây ra tác động tiêu cực đối với thu nhập, vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác (bao gồm cả các quốc gia) không thực hiện đúng hoặc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng KTNB hoạt động tín dụng là việc kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, thích hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng; đánh giá sự tuân thủ quy định, chính sách, thủ tục quy trình nội bộ về tín dụng; đánh giá chất lượng tín dụng và đánh giá việc quản lí các khoản nợ xấu nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Mục tiêu kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng Mục tiêu KTNB hoạt động tín dụng bao gồm các mục tiêu sau: - Đánh giá mức độ đầy đủ, thích hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng tại NHTM đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng được xây dựng phù hợp với quy định của Nhà nước và của ngành. - Đánh giá việc tuân thủ các chính sách, quy định, quy trình tín dụng do NHTM thiết lập, phát hiện những sơ hở, yếu kém cũng như mức độ thực thi chính sách, quy định, quy trình tín dụng để có các kiến nghị điều chỉnh thích hợp. - Phát hiện các rủi ro/lỗ hổng/sơ hở trong hoạt động tín dụng của NHTM từ đó TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 đề xuất với Ban Kiểm soát, HĐQT, Ban điều hành các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. - Đánh giá chất lượng tín dụng, công tác kiểm soát nợ xấu của NHTM từ đó có các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong tín dụng.
Phạm vi kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng Phạm vi KTNB hoạt động tín dụng bao gồm tất cả hoạt động tín dụng của NHTM mà cụ thể là: - Toàn bộ các chính sách, quy định, quy trình tín dụng, kể cả các thủ tục kiểm soát tín dụng đã được thiếp lập tại NHTM. - Toàn bộ doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ tính đến thời điểm kiểm toán. - Toàn bộ hồ sơ tín dụng hiện có tại các Chi nhánh/phòng giao dịch bao gồm các hồ sơ tín dụng còn dư nợ hoặc đã hết dư nợ, các hồ sơ trong hạn hoặc đã chuyển nợ quá hạn. Khi thực hiện KTNB hoạt động tín dụng, KTV có thể áp dụng phương pháp chọn mẫu để chọn lọc các tiêu chí, nội dung và hồ sơ trong các phạm vi trên.
Đối tượng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng Đối tượng KTNB hoạt động tín dụng tại NHTM bao gồm: - Hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng mà cụ thể là các chính sách, quy định, quy trình tín dụng, kể cả các thủ tục kiểm soát tín dụng tại NHTM. - Các hồ sơ tín dụng, các báo cáo tín dụng cũng như các thông tin tín dụng trên các chương trình công nghệ thông tin của NHTM. - Các đơn vị, cá nhân làm việc hoặc liên quan đến nghiệp vụ tín dụng trong toàn hệ thống NHTM.