Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết Chương 3: Thực trạng về sản phẩm, dịch vụ dành cho Khách hàng doanh nghiệp FDI bán buôn tại Vietcombank Chương 4: Kết luận và khuyến nghị Phần phụ lục 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Khách hàng doanh nghiệp FDI bán buôn 2. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, nhiều sách báo, tạp chí của các tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ các nước có tương đối nhiều định nghĩa về FDI, như định nghĩa của tổ chức Ngân hàng Thế giới thì FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư từ nước ngoài mà mang lại lãi suất từ 10% trở lên. Tuy nhiên, định nghĩa mà nhiều nước và các tổ chức hay dùng nhất là định nghĩa của tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) (1977) như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư.
Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường”. Bên cạnh đó, Tổ chức Thương mại Thế giới đã đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty”.
FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI hiểu theo định nghĩa Tiếng Anh là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, việc định danh loại hình doanh nghiệp này chưa thực sự rõ ràng.
Khái 7 niệm nhà đầu tư nước ngoài hiện vẫn đang được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, của nhiều cơ quan khác nhau, và nội dung còn nhiều điểm khác biệt, khái niệm doanh nghiệp FDI do đó cũng chưa được rõ ràng. Đối chiếu với khái niệm doanh nghiệp FDI theo định nghĩa Tiếng Anh, pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nước ta ở một phạm vi rộng hơn (tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, trong phạm vi bài nghiên cứu này, hiểu một cách cơ bản, doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước. Về góc độ quốc tế, Trong Balance of Payments Manual: Fifth Edition (BPM5) (Washington, D., International Monetary Fund, 1993), định nghĩa FDI như sau: FDI đề cập đến một khoản đầu tư được thực hiện để đạt được lợi ích lâu dài trong các doanh nghiệp hoạt động ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư. Xa hơn nữa, trong trường hợp FDI, mục đích của nhà đầu tư là để đạt được một tiếng nói và có tầm ảnh hưởng trong việc quản lý của doanh nghiệp. Các thực thể nước ngoài hoặc một nhóm các đơn vị liên kết đầu tư được gọi là "nhà đầu tư trực tiếp".
Doanh nghiệp hoặc công ty con chưa hợp nhất hoặc thành lập, tương ứng, trong đó đầu tư trực tiếp được thực hiện - được gọi là "doanh nghiệp đầu tư trực tiếp". Do đặc điểm chính của FDI được coi là lợi ích lâu dài của một nhà đầu tư trực tiếp trong doanh nghiệp, chỉ có vốn do nhà đầu tư trực tiếp cung cấp trực tiếp hoặc thông qua các doanh nghiệp khác có liên quan đến nhà đầu tư mới được phân loại là FDI. Trong Detailed Benchmark Definition of Foreign Direct Investment: Third Edition (BD3) (Paris, Organisation for Economic Co-operation and Development, 8 1996) định nghĩa, doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là doanh nghiệp trong đó một nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 10% cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu quyết của một doanh nghiệp (trừ khi có thể chứng minh rằng quyền sở hữu 10% không cho phép nhà đầu tư một tiếng nói hiệu quả trong quản lý) hoặc sở hữu ít hơn 10% cổ phần phổ thông hoặc quyền biểu quyết của một doanh nghiệp, nhưng vẫn duy trì tiếng nói hiệu quả trong quản lý. Tiếng nói trong doanh nghiệp giúp các nhà đầu tư trực tiếp tác động vào việc quản lý doanh nghiệp nhưng chưa hẳn họ có quyền kiểm soát tuyệt đối.
Đặc điểm quan trọng nhất của FDI, phân biệt nó với đầu tư danh mục đầu tư nước ngoài, là nó được thực hiện với ý định thực hiện kiểm soát đối với một doanh nghiệp. Sản phẩm, dịch vụ và chiến lược sản phẩm của Ngân hàng thương mại 2. Khái niệm sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng và sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng bán buôn “Dịch vụ” và “sản phẩm” không phải là các khái niệm đồng nhất với nhau. Dù vậy, với Ngân hàng thương mại, sản phẩm kinh doanh thực chất là các dịch vụ - vốn không tồn tại ở dạng vật chất - và có liên quan đến tài chính.
Do vậy, trong phạm vi bài nghiên cứu, “dịch vụ” và “sản phẩm” của ngân hàng có thể hiểu là tương tự như nhau và được gọi chung là dịch vụ ngân hàng hoặc sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Khái niệm về sản phẩm dịch vụ nhìn chung khá phức tạp, khái niệm về sản phẩm dịch vụ ngân hàng càng phức tạp hơn do tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Một cách cơ bản, sản phẩm khi được đưa ra thị trường phải có khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của khách hàng. Trong quá trình thực hiện, mỗi sản phẩm dịch vụ ngân hàng như vậy sẽ thể hiện những thuộc tính và đặc điểm của nó.
Theo cách hiểu này, ta có thể định nghĩa sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng mà ngân hàng tạo ra 9 nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Trong đó, dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho các tập đoàn lớn và các Ngân hàng thương mại khác với giá trị và quy mô lớn. Thông qua dịch vụ ngân hàng bán buôn, Ngân hàng cung cấp dịch vụ với chi phí thấp nhất để các tập đoàn và các NHTM khác có thể tiếp cận và đầu tư với chi phí thấp trên thị trường. Phân loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng Bao gồm sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hữu hình và sản phẩm bổ sung Sản phẩm cốt lõi nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp thiết, trọng yếu của khách hàng.
Đây là những lợi ích chính được khách hàng tìm kiếm ở ngân hàng, là giá trị cốt yếu được ngân hàng bán cho khách hàng. Sản phẩm hữu hình là phần cụ thể của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, là biểu hiện bên ngoài của các sản phẩm dịch vụ như tên, hình thức, đặc điểm, điều kiện sử dụng, nhận dạng. Đây là căn cứ để khách hàng nhận biết, phân biệt, so sánh và thực hiện lựa chọn sản phẩm dịch vụ giữa các ngân hàng với nhau. Sản phẩm bổ sung là phần tăng thêm vào phần đang hiện hữu các dịch vụ hay lợi ích khác, nhằm hoàn thiện những lợi ích chính của khách hàng, thỏa mãn được nhiều hơn nhu cầu của khách hàng, tạo khác biệt với đối thủ cạnh tranh.
Vì vậy, hiện nay, đây cũng là yếu tố cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng vì tính linh hoạt cao của sản phẩm bổ sung. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng không chỉ là những thuộc tính cụ thể, mà thực tế nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng như chuyển tiền, cho vay, huy động… không xác định được lợi ích trước khi sử dụng, mà chỉ khi thật sự sử dụng nó, khách 10 hàng mới có thể cảm nhận được sản phẩm là tập hợp những ích dụng thỏa mãn nhu cầu cần thiết của họ. Đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Tính vô hình: Sản phẩm ngân hàng thường được thực hiện theo qui trình khác với sản phẩm vật chất cụ thể, nên khó quan sát và cảm nhận được, khách hàng thường khá khó khăn khi chọn và sử dụng sản phẩm ngân hàng. Ngoài ra, khách hàng chỉ có thể thẩm định, kiểm tra chất lượng trong và sau khi sử dụng dịch vụ.
Tính không thể tách rời: do quá trình cung cấp sản phẩm của ngân hàng diễn ra đồng thời với sự tham gia của khách hàng theo những qui trình nhất định, không thể chia cắt ra thành các loại thành phẩm khác, nên ngân hàng sẽ không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho. Tính không ổn định và khó xác định: do sản phẩm ngân hàng được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau như: cơ sở hạ tầng, trình độ kỹ thuật, công nghệ, nhân sự, khách hàng, địa điểm và thời gian giao dịch., nên tất cả đều có sự biến động, đặc biệt là yếu tố con người. Chu kỳ sống của sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Chu kỳ sống của sản phẩm Ngân hàng chia làm bốn giai đoạn như sau: Giai đoạn thâm nhập thị trường là giai đoạn sản phẩm dịch vụ bắt đầu được đưa vào thị trường, chưa được biết đến nhiều và mức độ sử dụng còn thấp nên chưa thể khai thác được tối đa quy mô. Do đó, trong giai đoạn này, doanh thu thường chưa cao, lợi nhuận thấp hoặc chưa có, trong khi chi phí sản xuất còn khá cao.
Vì vậy, Ngân hàng cần tạo lợi thế trong cạnh tranh, thu hút và phát triển thị trường khách hàng mới. Giai đoạn tăng trưởng – phát triển là giai đoạn sản phẩm dịch vụ đã xâm nhập mạnh vào thị trường và trở nên quen thuộc với khách hàng. Nhu cầu cũng như số lượng khách hàng cũng tăng theo, kéo theo lợi nhuận tăng nhanh có thể đạt cực 11 đại song song cùng việctăng chi phí marketing, gia tăng cạnh tranh do có nhiều đối thủ mới xuất hiện trên thị trường.