Chương 1: Tổng quan về hoạt động CVTD của các Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng CVTD của Ngân hàng VPBank —- PGD Lê Trọng Tấn Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng CVTD của Ngân hàng VPBank - PGD Lê Trọng Tan SV: Lê Thùy Trang 9 GVHD: ThS. Lê Phong Châu 2020 CHUONG 1: TONG QUAN VE HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIỂU DUNG CUA CAC NGAN HANG THUONG MAI 1. Tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM 1. Quá trình hình thành và phát triển hoạt động CVTD - Trước chiến tranh thé giới thứ 2, các NH chủ yếu tập trung vào cho vay phục vụ san xuất kinh doanh, còn hộ gia đình và cá nhân thi NH ít cho vay hơn, bởi NH hiểu rang CVTD có quy mô nhỏ, chi phí cao, nếu không có tai sản đảm bao thì tất nhiên rủi ro cũng cao.
- Sau chiến tranh thế giới thứ 2, sức ép do cạnh tranh đã khiến cho các NH tiến hành cải cách, thay đổi cơ câu cho vay giữa các thành phan. Sự cạnh tranh của các TCTD va các TCTC trung gian khác, cùng với đó thị trường vốn phát trién mạnh mẽ, khiến thị phần cho vay các TCKT giảm sút bởi nhiều doanh nghiệp, công ty đã phát hành cổ phiếu và trái phiếu để tự tài trợ cho mình. Các NH đã chuyền sang hoạt động khác để thu nhập tăng lên. Nền kinh tế dần dần phát triển đã làm tăng mức sống người dân, nhu cầu vay tiêu dùng cũng nhờ thế mà tăng lên.
Cho vay tiêu dùng dần dần trở thành một thị trường đầy tiềm năng đối với các ngân hàng. Thị trường CVTD đã được các NH tập trung mở rộng. Nhiều ngân hàng lập phòng tín dụng tiêu dùng độc lập để chuyên môn hóa hoạt động cho vay này nhằm tăng quy mô cho vay, giảm rủi ro và chi phí trong hoạt động CVTD, đưa tín dụng tiêu dùng trở thành loại hình tin dụng có mức tăng trưởng cao. Định nghĩa cho vay tiêu dùng Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Theo tạp chí ngân hàng cua Ngân hàng nhà nước: “Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chỉ tiêu của cá nhân và hộ gia đình. Trong đó, ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho cá nhân hay hộ gia đình được sử dụng một khoản tiền nhất định trong một khoảng thời gian đã xác định trước, đây là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thé trang trải các nhu cau trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghỉ sinh hoạt, học tập, du lịch, SV: Lê Thùy Trang 10 GVHD: ThS. Lê Phong Châu 2020 y tế. trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ, tạo điều kiện cho họ nâng cao chất lượng cuộc sống với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng cho vay”.
Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dung có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng. Đối tượng cho vay thường là dân cư CVTD là hoạt động tài trợ, trong đó các NHTM cung ứng vốn đến khách hàng để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu, phục vụ cuộc sống và giúp khách hàng nâng cao chất lượng sống của họ trước khi điều kiện tài chính của họ có thể thỏa mãn chứ không đáp ứng ý định kinh doanh, sản xuất. Do đó, hoạt động CVTD của NHTM chỉ hướng tới phục vụ duy nhất phân khúc khách hàng là cá nhân và các hộ gia đình. Số lượng các khoản vay lớn nhưng giá trị mỗi khoản vay nhỏ Do chịu ảnh hưởng của mục đích sử dụng va thu nhập của KH nên giá tri mỗi khoản vay tiêu dùng thường không giống nhau.
Khoản vay này đáp ứng cho nhu cầu chỉ tiêu của dân cư mà trị giá của hàng hóa lại nhỏ hoặc người đi vay đã có một phần vốn tương đối nên chỉ vay thêm nhằm bồ sung khoản tiền còn thiếu, do đó giá trị mỗi khoản vay sẽ nhỏ. Khi xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân cao hơn, nhu cầu tiêu dùng đa dạng hơn, nhu cầu chi tiêu cũng sẽ tăng theo, trong khi không phải ai cũng có thé đáp ứng được nhu cầu ngay lập tức. Do đó, nhu cau vay dé tiêu dùng ngày càng có chiều hướng gia tăng dẫn đến số lượng các khoản CVTD ngày càng lớn. Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao Cho vay tiêu dùng rủi ro hơn cho vay kinh doanh do những nguyên nhân khách quan và chủ quan.
- Rui ro khách quan: Khách hàng chủ yếu dùng thu nhập dé trả nợ khoản vay tiêu dùng. Tuy nhiên khả năng trả nợ của khách hàng sẽ bị tác động xấu khi tình hình kinh tế vĩ mô bất ồn, thiên tai, thất nghiệp, tình trạng sức khoẻ và uy tín của khách hàng. Nếu khách hàng vay tiêu dùng gặp phải rủi ro trong công việc như bị mắt việc làm, giảm lương, tình trạng sức khỏe đau ốm bệnh tật, tai nạn. sẽ ảnh hưởng đến SV: Lê Thùy Trang Il GVHD: ThS.
Lê Phong Châu 2020 việc trả nợ cho NHTM. Hay như việc thu chi mất cân đối của khách hàng cũng sẽ khiến NHTM gặp rủi ro trong việc thu nợ. - Rui ro chủ quan: Thường khó thu thập day đủ và rõ ràng thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình như thông tin về doanh nghiệp (sử dụng báo cáo tài chính hoặc qua việc kiểm tra công tác kế toán). Do đó thông tin thường thiếu chính xác, hay biến động, dẫn đến rủi ro thông tin không cân xứng và rủi ro đạo đức.
Bên cạnh đó, có những khách hàng mặc dù có khả năng trả nợ nhưng không có thiện chí nên đã trốn tránh trách nhiệm trả nợ. Còn có khách hàng cung cấp thông tin thiếu trung thực và không đầy đủ để được phê duyệt khoản vay. Khách hàng có thể che giấu các thông tin xấu về mình để có được khoản vay làm cho việc thâm định thiếu chính xác khiến cho NHTM đánh giá sai về các phương án cho vay, từ đó tăng khả năng mất vốn. Chi phí cho vay tiêu dùng thường rat lớn Trong hau hết hình thức cho vay của NHTM thì CVTD là một trong những hình thức cho vay có chi phí cao nhất, bởi vì khi khách hàng di vay thì cần cung cấp những thông tin cần thiết và thực hiện theo các nguyên tắc của NHTM.
Tuy vậy, những thông tin đó không phải luôn luôn chính xác. Vì vậy, NHTM buộc phải huy động nguồn nhân lực và bỏ ra lượng lớn thời gian và chi phí dé điều tra, thu thập các thông tin cá nhân, khả năng tài chính, mức độ uy tín của khách hàng trước khi quyết định cho khách hàng vay, theo dõi tình hình của khách hang trong va sau quy trình tín dụng. Cho vay tiêu dùng có khả năng sinh lời cao Hiện nay, các khoản CVTD của các NHTM mang lại mức lợi nhuận khá cao và chiếm tỉ trọng khá lớn trong tông lợi nhuận của ngân hàng bởi các khoản CVTD có số lượng rất lớn, kèm theo đó lãi suất CVTD cao nên hoạt động CVTD thu được lợi nhuận khá lớn. Hoạt động này là một trong những nguồn thu chủ yếu và đóng vai trò chủ đạo trong các dịch vụ được cung cấp bởi NHTM.
Tiếp tục khai thác lĩnh vực CVTD hứa hen trong tương lai có nhiều triển vọng. Nhất là ở các nước đang phat triển, hoạt động CVTD đang dần khăng định vai trò quan trọng của mình, đem lại nguồn lợi nhuận không hề nhỏ trong hoạt động tín dụng của NHTM. Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cô định và khá cao Các khoản CVTD có lãi suất cao hơn lãi suất cho vay kinh doanh bởi quy mô SV: Lê Thùy Trang 12 GVHD: ThS. Lê Phong Châu 2020 các khoản vay nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản) nhưng số lượng các khoản cho vay lớn do có nhiều khách hàng vay, lại không có TSĐB nên NH phải mat nhiều thời gian và cần nhiều nhân viên thâm định, theo dõi khách hàng trước trong và sau khi cho vay, rồi thu hồi nợ để đảm bảo hạn chế rủi ro các khoản vay này.
Vì thế chi phí phục vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng là không nhỏ. Đương nhiên khi chi phí cao thì cần phải bù đắp băng nguồn thu lãi và phí, do đó lãi suất cho vay sẽ cao. Không như hầu hết các khoản vay kinh doanh với lãi suất thay đối theo điều kiện thi trường thì lãi suất CVTD thường được giữ có định. Nhu cau vay tiêu dùng thường chịu tác động bởi kinh tế CVTD phụ thuộc nhiều vào sự 6n định về nguồn thu của khách hàng, bị tác động rất lớn bởi các biến động trong nền kinh tế.
CVTD cho phép mọi người tiêu dùng, mua săm hàng hóa, dịch vụ ở thời điểm hiện tại dựa trên thu nhập trong tương lai. Nếu như kinh tế có xu hướng tăng trưởng mạnh, người dân tin rang họ sẽ sở hữu nhiều tài sản hơn ở tương lai do đó cầu về chỉ tiêu sẽ lớn hơn. Còn khi kinh tế có chiều hướng đi xuống, đầu tư suy giảm làm cho tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng hơn, khi đó sẽ chi tiêu ít hơn để tiết kiệm nên sẽ ít có nhu cầu vay tiêu dùng ở NHTM. Thu nhập và trình độ của người vay có quan hệ chặt chẽ với nhu cầu vay tiêu dùng Thu nhập và trình độ của người vay có tác động thuận chiều lên quyết định đi vay của họ.
Khách hàng có nguồn thu nhập tốt thường tăng mức chỉ tiêu và ngược lại. Trình độ văn hóa cũng vậy, khách hàng sẽ tăng nhu cầu đối với các mặt hàng xa xi, nâng cao mức sống, nâng cao tri thức thông qua học tập, đi đu học, chăm sóc sức khỏe, do vậy nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao. Phân loại hoạt động cho vay tiêu dùng 1. Căn cứ vào phương thức hoàn trả * Cho vay tiêu dùng tra góp: Hình thức CV'TD này cho phép người di vay tra nợ (bao gồm tiền gốc và tiền lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn vay.
Thường được áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn, có giá trị tương đối lớn để mua những vật dụng đắt tiền phục vụ nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, phương tiện vận tải, mua ô tô,.