Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Tây Hà Nội. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Tây Hà Nội.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Liên quan đến vấn đề chất lượng cho vay DNVVN của các NHTM đã có không ít tác giả tiếp cận ở các khía cạnh hoạt động và góc độ nghiên cứu khác nhau về NHTM cả trong và ngoài nước.Tài liệu nghiên cứu trong nước. Tác giả Ngô Khánh Huyền (2021) đã hệ thống hóa lý thuyết chất lượng hoạt động và đánh giá được tác động của các nhân tố vĩ mô đến chất lượng hoạt động của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2020.
Phối hợp phương pháp phân tích định tính và định lượng (DEA) để phân tích tác động tổng hợp của các chỉ tiêu vi mô và vĩ mô trong phân tích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong 13 năm từ 2008- 2020, phản ánh được tính biến động của ngành ngân hàng nói riêng và chu kỳ kinh tế nói chung. Tác giả Tạ Quang Bửu (2021) nêu lên cho vay là lĩnh vực phức tạp và luôn phải thay đổi, cập nhật theo những diễn biến cũng như biến động của thị trường. Trong các hoạt động kinh doanh của NHTM thì cho vay đóng vai trò hết sức quan trọng, vì đây là hoạt động chính để tạo ra lợi nhuận. Do đó, phát triển hoạt động này là điều cần thiết, đặc biệt là tại Vietcombank - Chi nhánh Nam Sài Gòn thì mảng cho vay khách hàng DNVVN hiện tại chưa thật sự được chú trọng, có tăng trưởng nhưng chưa có sự bứt phá, phát triển mảng hoạt động này sẽ thúc đẩy các mảng hoạt động kinh doanh khác, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Chi nhánh khi tìm ra những yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến cho vay ở phân khúc này làm cơ sở đưa ra những giải pháp phù hợp để pháp triển nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Vietcombank - chi nhánh Nam Sài Gòn trong định hướng phát triển ở hiện tại và tương lai.
Tác giả Lê Thị Thu Trang (2021) đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận, khung lý thuyết cơ bản của năng lực quản trị rủi ro tín dụng và thực trạng năng lực quản trị 4 rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành đến năng lực của Ngân hàng này; Yếu tố nào được đánh giá có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất cũng như thứ tự mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến năng lực Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Thông qua phân tích những kết quả đạt được và tồn tại về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, tác giả đã đề xuất một số giải pháp Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Tài liệu nghiên cứu nước ngoài. Arsyad và Djoko (2019) đã nghiên cứu hệ số an toàn vốn (CAR), tỷ lệ lãi cận biên (NIM), tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DER) đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng chỉ tiêu CAR và NIM có ảnh hưởng thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến khả năng sinh lời của ngân hàng, LDR không có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận của ngân hàng và DER không có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận của ngân hàng.
Dávila & Walther (2020) khi nghiên cứu các hoạt động của ngân hàng và vấn đề thanh khoản. Các tác giả cho thấy rằng khi rủi ro càng cao, thì vấn đề tìm kiếm của ngân hàng với thanh khoản càng lớn, vì vậy cần phải đưa ra một chiến lược phát triển chung trên góc độ đảm bảo an toàn và sinh lời. Chỉ khi có đảm bảo an toàn và sinh lời thì mới có khả năng đảm bảo cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài chính. Một trong những vấn đề khác mà nghiên cứu này đề cập là vấn đề quy định của ngân hàng trung ương trên thị trường: chỉ khi ngân hàng trung ương có những đánh giá đúng và đủ về mức độ đủ vốn của các NHTM dựa trên Basel 3 thì các NHTM mới có thể đảm bảo được thanh khoản, và từ đó đi theo ý tưởng phát triển các chỉ tiêu tài chính.
Fader (2020) phát triển ý tưởng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng không chỉ dựa vào ROA, ROE mà còn phải thiết kế được các sản phẩm theo hướng có lợi cho việc sử dụng của ngân hàng. Tác giả đã nghiên cứu các hạn chế của việc đặt sản 5 phẩm là trọng tâm, đưa ra cơ hội khi đặt khách hàng là trọng tâm nhằm tối đa hóa giá trị cho khách hàng, qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Tác giả đã nghiên cứu, so sánh lý thuyết mô hình lấy sản phẩm là trọng tâm và mô hình lấy khách hàng là trọng tâm, đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng và hiệu quả tại các tổ chức lấy sản phẩm là trọng tâm và tổ chức lấy khách hàng là trọng tâm, từ đó xác định các nội dung mang đến lợi thế cạnh tranh từ việc đặt khách hàng là trọng tâm và những nội dung một tổ chức lấy khách hàng là trọng tâm cần thực hiện để đảm bảo mang giá trị lâu dài cho khách hàng, cũng là cách để duy trì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khoảng trống nghiên cứu Có thể thấy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra được cái nhìn tổng quan về DNVVN, vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, đi sâu vào vấn đề cho vay DNVVN nói chung và cho vay DNVVN trên góc độ tiếp cận từ Vietcombank - Chi nhánh Tây Hà Nội nói riêng để từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc cho vay DNVVN thì các công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề cập tới. Ngoài ra, Vietcombank nói chung và Vietcombank - Chi nhánh Tây Hà Nội nói riêng là một trong những ngân hàng có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của Khu vực Hà Nội nhưng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học một cách đầy đủ, có hệ thống về hoạt động cho vay DNVVN tại Vietcombank - Chi nhánh Tây Hà Nội. Vì vậy, tác giả cho rằng việc nghiên cứu vấn đề thực trạng chất lượng cho vay DNVVN tại chi nhánh để tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay DNVVN tại Vietcombank - Chi nhánh Tây Hà Nội là cần thiết. Nếu nghiên cứu thành công, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các ngân hàng khác và cho các cơ quan quản lý nhà nước hữu trách trong việc đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp của các NHTM ở nước ta trong xu thế hội nhập.
Lý luận về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thƣơng mại 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ a. Khái niệm 6 Mặc dù DNVVN có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế nhưng định nghĩa về đối tượng này vẫn còn khác nhau rất nhiều trên toàn thế giới. Theo Ngân hàng thế giới, định nghĩa phổ biến về DNVVN là các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh với chưa tới 250 nhân viên.
Định nghĩa này chiếm đại đa số các công ty trong khu vực kinh tế vừa và nhỏ. Người ta ước tính rằng DNVVN chiếm ít nhất 95% các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên toàn thế giới. Ví dụ, ở châu Âu con số này là hơn 99%. Để thu hẹp hạng mục này, đôi khi DNVVN được phân biệt với các doanh nghiệp vi mô hoạt động dưới dạng doanh nghiệp có số nhân viên tối thiểu, ví dụ như 5 hoặc 10 nhân viên.
Các tiêu chí khác để định nghĩa phân khúc thị trường này là doanh thu hàng năm, tài sản và qui mô vay hoặc đầu tư. Trong hạng mục phân loại của Ngân hàng Thế giới, một DNVVN phải hội đủ hai trong số ba điều kiện tối đa về nhân viên, tài sản hoặc doanh thu hàng năm (Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN của ngân hàng thế giới (đáp ứng 2 trong 3 tiêu chí) Quy mô doanh Doanh thu hàng Nhân viên Tài sản nghiệp năm Vi mô < 10 < $100.000 Nguồn: Ayyagari, Beck và Demiguc – Kun (2015) Trên đây là định nghĩa của Ngân hàng thế giới về DNVVN, tuy nhiên, định nghĩa về DNVVN còn phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Liên minh châu Âu định nghĩa DNVVN là các doanh nghiệp có từ 10 đến 250 nhân viên.2: Tiêu chí xác định DNVVN của Liên minh châu Âu Quy mô doanh nghiệp Nhân viên Doanh thu hàng năm Vi mô < 10 < 2 triệu euro Nhỏ < 50 < 10 triệu euro Vừa < 250 < 50 triệu euro Nguồn: Đề xuất 96/280/CE, với thông tin cập nhật tháng 5 năm 2003 7 Một số các quốc gia khác định nghĩa DNVVN theo tiêu chí khác, chi tiết như bảng sau: Bảng 1.3: Tiêu chí xác định DNVVN của một số quốc gia trên thế giới Quốc gia Nhân viên Doanh thu hàng năm Hoa Kỳ < 500 nhân viên cho phần < 7 triệu USD đối với đa số các ngành lớn hoạt động sản xuất và không liên quan đến sản xuất nhưng khai thác dao động tới mức 35,5 triệu USD Canada 10 tới 250 < 50 triệu CAD Mexico <500 trong hoạt động sản xuất, < 50 trong hoạt động dịch vụ Nam Phi 10 tới 200 200.000 ZAR đến 40 – 50 triệu ZAR Thái Lan < 200 trong ngành sử dụng nhiều lao động và <100 trong ngành sử dụng nhiều vốn Nguồn: IMF (2004) SME Lanscape in Egypt, U.