phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn có 3 chương, 9 tiết. Chƣơng 1: Môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế - cơ sở lý luận và kinh nghiệm ở một số địa phương. Chƣơng 2: Thực trạng môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế ở Hải Dương. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu giải quyết mối quan hệ giữa môi trường sinh thái với phát triển kinh tế bền vững ở Hải Dương.
5 Chƣơng 1 MÔI TRƢỜNG SINH THÁI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 1. Môi trƣờng sinh thái 1. Khái niệm môi trường sinh thái Trên thế giới hiện nay, dù là nước đang phát triển hay phát triển, nước giàu hay nước nghèo thì một vấn đề chung đặt ra là làm thế nào để có mối quan hệ hài hòa giữa TTKT và BVMT. Bởi vì, muốn tăng trưởng phải khai thác, sử dụng nhiều tài nguyên, và phát thải cũng nhiều hơn, tất nhiên là không tránh được những tác động tiêu cực đến môi trường.
Tại các nước đang phát triển, mối quan hệ giữa nghèo khổ và suy thoái môi trường đã tạo nên một vòng luẩn quẩn là: sống dựa nhiều vào nguồn lợi thiên nhiên, thiếu tri thức, thiếu vốn, thiếu công nghệ nên năng suất lao động thấp, sử dụng năng lượng và nguyên liệu với hiệu suất và hiệu quả thấp lại tốn nhiều tài nguyên và môi trường không xử lý được… Đã có nhiều báo cáo khoa học của các nước khác nhau nêu lên những vấn đề mới trên phạm vi toàn cầu liên quan đến các cơ chế điều tiết của sinh quyển như: lỗ hỏng tầng ôzôn, hiệu ứng nhà kính, tính ĐDSH bị suy giảm. Nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, những chiều hướng xấu của vấn đề MTST đặc biệt là những vấn đề về sự biến đổi của môi trường, nguồn sống của loài người đang bị cạn kiệt, MTST bị hủy hoại. Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm “Môi trường sinh thái”. Để hiểu rõ hơn khái niệm “Môi trường sinh thái” chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan như: “môi trường”, “sinh thái”, “hệ sinh thái”.
* Khái niệm môi trường Theo định nghĩa của UNESCO (năm 1981), “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác TNTN và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhau cầu của mình” [32, tr. Luật Môi trường sửa đổi năm 2005 quan niệm: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời 6 sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [34, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt, môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy [44, tr. Còn theo quan niệm của tác giả Lê Huy Bá trong cuốn “Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững” được nhiều người đồng tình thì: “Môi trường là các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý học, hóa học, sinh học cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người.
Các yếu tố đó có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hay con người để cùng tồn tại và phát triển. Tổng hòa của các chiều hướng phát triển của từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật của hệ sinh thái và của xã hội con người” [4, tr. * Khái niệm sinh thái, hệ sinh thái Theo Từ điển Tiếng Việt, “sinh thái” là quan hệ giữa sinh vật, kể cả con người và môi trường; “sinh thái” là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống. Sinh vật và môi trường xung quanh thường xuyên có tác động qua lại với nhau tạo thành một đơn vị hoạt động thống nhất.
Các sinh vật trong một đơn vị bất kỳ như thế sẽ gồm rất nhiều các loài sinh vật sinh sống và đó chính là quần xã sinh vật, chúng tương tác với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng và vật chất tạo nên cấu trúc dinh dưỡng và chu trình tuần hoàn vật chất giữa thành phần hữu sinh và vô sinh thì được gọi là “hệ sinh thái” [44, tr. * Khái niệm môi trường sinh thái Theo Từ điển Tiếng Việt, MTST là toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến đời sống của xã hội loài người [44, tr. Còn theo Phạm Thị Ngọc Trầm, MTST bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể - bảo vệ con người. MTST là tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội [43, tr.
Từ các ý kiến trên, chúng tôi cho rằng: MTST là toàn bộ môi trường tự nhiên liên quan đến sự sống của con người và xã hội loài người. Nó là sản phẩm và cũng là điều kiện của quá trình sinh tồn của con người và các loài sinh vật khác trong mối quan hệ cộng sinh và quy định, chế ước lẫn nhau. Như vậy, có thể hiểu MTST là một chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ và 7 tương tác với nhau giữa điều kiện tự nhiên và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Sự rối loạn, bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên. Hoạt động của con người và xã hội được xem là một khâu, một yếu tố trong hệ thống, thông qua quá trình lao động, con người khai thác, bảo vệ, bồi đắp cho thiên nhiên. Do sự PTKT, môi trường tự nhiên bị đe dọa nghiêm trọng, phá hủy sự cân bằng sinh thái và để lại những hậu quả không lường được. Sự thay đổi của các nhân tố MTST có thể chia thành các nhân tố điều khiển được và các nhân tố không điều khiển được.
Các nhân tố điều khiển được là sự gây ô nhiễm bầu khí quyển, nguồn nước, sự xói mòn đất và sự hủy diệt giới động thực vật… Những nhân tố không điều khiển được là loại đất, địa hình vùng, chế độ gió, chế độ nhiệt, tình hình động đất trên lãnh thổ…Việc tính đến các nhân tố không điều khiển được của môi trường cho phép xây dựng sát thực tế hơn các phương án PTKT chấp nhận được trên vùng lãnh thổ đã cho. Đối với các nhân tố điều khiển được của môi trường tự nhiên cần có các thông số kỹ thuật, kinh tế và xã hội cần thiết mới có thể xác định được mục tiêu tối ưu của các phương án. Bảo vệ MTST đã, đang và sẽ là vấn đề mang tính toàn cầu. Nội dung cơ bản của BVMT là: bảo vệ rừng và đảm bảo độ che phủ trên lãnh thổ, chống ô nhiễm không khí, nước và đất, giải quyết và tận dụng các phế thải, chống xói mòn, hoang mạc hóa đất đai, quản lý nơi cư trú cho các loài sinh vật, bảo vệ và chống sự tiêu diệt các loài sinh vật quý hiếm, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNTN.
Muốn giải quyết tốt vấn đề MTST cần nắm được các khái niệm liên quan: * Bảo vệ môi trường: Là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho con môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNTN. BVMT còn là tập hợp các biện pháp giữ gìn, bảo vệ, phục hồi, sử dụng một cách hợp lý môi trường sinh học, MTST; nghiên cứu, thử nghiệm các thiết bị, áp dụng các khoa học công nghệ, ít hoặc không có phế thải nhằm tạo ra cuộc sống tối ưu cho con người. * Tiêu chuẩn môi trường: Theo Luật BVMT của Việt Nam "Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn 8 cứ để quản lý môi trường" [15]. * Ô nhiễm môi trường: là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường.
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại [31]. - Ô nhiễm môi trường nước: là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước chủ yếu do con người gây ra, ảnh hưởng đến đời sống con người và sinh vật, ảnh hưởng đến sự PTKT - XH. - Ô nhiễm không khí: là sự biến đổi trong thành phần không khí làm cho nó không sạch, bụi, có mùi khó chịu. - Ô nhiễm đất: ô nhiễm đất xảy ra khi có mặt một số chất lạ và hàm lượng của chúng vượt quá khả năng chịu tải của đất.
- Ô nhiễm tiếng ồn: âm thanh gây nên do những rung động trong không khí gây kích thích cảm giác nghe. Ô nhiễm tiếng ồn thường do các phương tiện giao thông, các máy móc hoạt động trong sản xuất, sinh hoạt. * Chất gây ô nhiễm: là những chất làm cho môi trường trở thành độc hại. Khi đó môi trường không những mất hết những giá trị của mình mà còn trở thành độc hại đối với con người và sinh vật.
* Chất thải rắn: là vật liệu ở dạng rắn (từ thực phẩm không còn sử dụng được, các loại thải rắn như bao bì, chai lọ, các loại vôi, gạch vụn từ công trình xây dựng…) bị loại bỏ thường có nguồn gốc từ các khu thương mại, dân cư, nhà máy, trong sản xuất nông nghiệp. * Chất thải nguy hại: là loại chất thải có nồng độ độc tố cao, có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường. * Tai biến môi trường: Là quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường. Quá trình tai biến phản ánh tính nhiễu loạn, tính bất ổn của hệ thống.
Tai biến môi trường thường có 2 loại: - Loại cấp diễn: xảy ra nhanh, mạnh, đột ngột và cũng nhanh chóng kết thúc, được xen kẽ một khoảng thời gian dài bình yên như: động đất, sóng thần, bão, lũ lụt… - Loại trường diễn: xảy ra chậm, trường kỳ như sa mạc hóa, nhiễm mặn đất ven biển… [31]. * Suy thoái môi trường: sự thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường; gây ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và thiên nhiên.