Chương 1: Giới Thiệu Chương 2: Tổng Quan Các Nghiên Cứu Thực Nghiệm 5 Chương 3: Phương Pháp Nghiên Cứu Chương 4: Nội Dung Và Kết Quả Nghiên Cứu Chương 5: Kết Luận 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ---o0o--- 2.1 Nền tảng lý thuyết 2.1 Lý thuyết tập trung quyền sở hữu quản lý Công ty cổ phần có đặc điểm quan trọng là sự tách biệt giữa quyền sở hữu (cổ đông) và quyền quản lý (ban giám đốc) gây ra mâu thuẫn tiềm tàng giữa cổ đông và ban quản trị. Một phương pháp giảm mâu thuẫn là khuyến khích nhà quản trị sở hữu cổ phần. Jensen và Meckling (1976) đã đề xuất mối quan hệ giữa quyền sở hữu quản lý và giá trị doanh nghiệp. Tăng giá trị sở hữu của ban giám đốc là giải pháp cho công ty giải quyết mâu thuẫn.
Tuy nhiên, biện pháp này gây ra hai hiệu ứng trái ngược giữa quyền sở hữu quản lý và hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần: hiệu ứng hội tụ (convergence effect) giải thích tác động tích cực của mức độ tập trung quyền sở hữu quản lý lên hiệu quả hoạt động của công ty, và hiệu ứng ngăn chặn (entrenchment effect) cho mối tương quan âm giữa mức độ tập trung quyền sở hữu quản lý và hiệu quả hoạt động của công ty vì khi tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý ở mức quá cao sẽ ngăn chặn việc kiểm soát công ty từ thị trường (các bên có liên quan) tức là khi nhà quản lý có mức độ sở hữu ở mức quá cao, họ có đủ quyền lực để ra những quyết định mà không bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài và thậm chí là lấn át các cổ đông tối thiểu khác. Mặt khác, khi cổ phần công ty được chia nhỏ và phân phối cho nhiều cổ đông thể hiện sự phân tán quyền sở hữu thì các nhà quản trị hay các nhà quản lý cấp cao ít có động cơ để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hơn là k hi mức độ tập trung quyền sở hữu cao (Turkin and Sedrine, 2012). Vì khi mức độ tập trung quyền sở hữu cao , quyền lợi của cá c nhà quản lý gắn chặt với giá trị công ty. Họ hành động hăng say để tối đa hóa giá trị tài sản cổ đông cũng chính là giá trị tài sản của họ (Zeitun and Almudehki, 2012).
7 Tóm lại, quyền sở hữu quản lý sẽ giúp gắn lợi ích của nhà quản lý với công ty. Một mức độ sở hữu cổ phần thích hợp sẽ tạo động lực cho nhà quản lý nổ lực để gia tăng giá trị công ty.2 Lý thuyết chi phí đại diện Lý thuyết chi phí đại diện tập trung vào mối quan hệ giữa hội đồng quản trị và ban giám đốc hay quan h ệ giữa người sở hữu vốn và người đại diện để sử dụng vốn. Alchian và Demsetz (1972) đã đặt nền móng cho lý thuyết này và sau đó được Jesen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976, sau đó là nhóm tác giả Davis, Schoorman và Donaldson (1997). Sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý làm phát sinh vấn đề chi phí đại diện khi nhà quản lý không sở hữu cổ phần công ty và cả hai chủ thể trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình (Jensen and Meckling, 1976).
Mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông nắm giữ. Các nhà quản lý lại hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn: tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận,. nhằm tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với doanh nghiệp. Do vậy, lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu, tức là các cổ đông.
Sự tách biệt việc sở hữu và điều hành doanh nghiệp còn tạo ra hiện tượng thông tin không cân xứng, nhà quản lý có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn và phức tạp. Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho công ty. Khi nhà quản lý không sở hữu cổ phần công ty , lợi ích của họ không gắn chặt với giá trị công ty , họ ít có động lực để n ỗ lực tối đa , tìm kiếm các phương án đầu tư tốt nhất, hiệu quả nhất để gia tăng giá trị doanh nghiệp từ đó tối đa hóa giá trị tài 8 sản cổ đông. Thay vào đó họ có thể sử dụng quyền lực để đưa ra một số quyết định trục lợi gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty , còn gọi là rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức là hệ quả từ vấn đề bất cân xứng thông tin giữa ngư ời sở hữu và nhà quản lý. Những người quản lý có thể theo đuổi mục tiêu riêng của mình và người trả giá là các cổ đông. Họ lãng phí tài nguyên doanh nghiệp, đầu tư vào những dự án có lợi và an toàn cho cá nhân, dùng tài nguyên của doanh nghiệp cho mục đích cá nhân, họ xây dựng những cơ chế tự bảo vệ mình. Tất cả những hành vi đó không đem lại mục tiêu cực đại giá trị cho nhà đầu tư, đặc biệt hơn là những hành vi này không dễ xác định và quản lý.
Nhà quản trị có thể hạn chế rủi ro này thông q ua giám sát thông tin chặt chẽ , tuy nhiên gây tốn kém và ít hiệu quả do ảnh hưởng bởi vấn đề “ngồi không hưởng lợi” (“free-riding’’) là khi một số cổ đông có thể là “những người đi xe miễn phí”, họ dành ít chi phí để giám sát thông tin từ các nhà quản lý khi tin rằng đã có các cổ đông khác thay họ làm điều này và cuối cùng tạo ra một sự giám sát không hiệu quả và không còn người thực hiện (Shleifer and Vishny, 1997). Tóm lại, vấn đề đại diện khiến công ty không thể đạt được hiệu quả mà lẽ ra nó có thể đạt được. Học thuyết về đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty. Vì vậy, một biện pháp hiệu quả để các nhà sở hữu có thể hạn chế vấn đề chi phí đại diện là gắn lợi ích nhà quản lý với thành quả công ty, cho họ một tỷ lệ sở hữu nhất định để khuyến khích nhà quản lý hành động vì mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cổ đông cũng chính là tài sản của họ (Fauzi and Locke, 2012).2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây 2.1 Tập trung quyền sở hữu quản lý và hiệu quả hoạt động công ty: Rất nhiều nghiên cứu trước đây từ nhiều nhóm tác giả ở các quốc gia khác nhau xem xét và cho ra những kết luận khác nhau về tác động của vấn đề tập trung quyền sở hữu quản lý lên hiệu quả hoạt động công ty.
Lee and Ryu (2003), nghiên cứu các công ty trong ngành công nghiệp hóa chất trên thị trường Hàn Quốc, với giai đoạn nghiên cứu từ năm 1981 đến năm 1990, sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và nhận thấy rằng giá trị công ty (đo lường bởi Tobin’s Q) độc lập với quyền sở hữu hiện hành của các nhà quản lý. Karaca and Ekşi (2012): Nghiên cứu này điều tra mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp của 50 công ty Thổ Nhĩ Kỳ trong ngành công nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Istanbul trong giai đoạn 2005-2008. Nghiên cứu sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) cho kết luận: tỉ lệ sở hữu của các cổ đông lớn nhất có tác động tích cực trên lợi nhuận trước thuế của công ty tuy nhiên không tìm thấy tác động lên hiệu quả hoạt động công ty (đo lường bởi Tobin’q). Nghiên cứu của Ryu and Yoo (2011) trên thị trường Hàn Quốc, sử dụng dữ liệu bảng cho mẫu gồm 193 công ty Hàn Quốc, giai đoạn nghiên cứu từ 1998 đến 2004.
Sử dụng phương pháp ước lượng Pooled OLS, bình phương bé nhất tổng quát (GLS) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), kết quả cho thấy không có mối quan hệ rõ ràng giữa giá trị công ty (đo lường bởi ROA) và quyền sở hữu quản lý nội bộ đối với hầu hết các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nội bộ ít hơn 42%, giá cổ phiếu và lợi nhuận giảm khi gia tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lý. Hassan and Butt (2009) nghiên cứu 59 công ty phi tài chính Pakistan niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Karachi, được lựa chọn ngẫu nhiên trong giai đoạn nghiên cứu 2002-2005, sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), ROA được dùng để đo lường giá trị 10 công ty, kết quả nghiên cứu cho thấy một mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ sở hữu nội bộ và giá trị công ty. Lins and Lemon (2001) sử dụng một mẫu của 800 doanh nghiệp trong tám nước Đông Á: Hồng Kông; Indonesia; Malaysia; Philippines; Singapore; Hàn Quốc; Đài Loan và Thái Lan để nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến giá trị công ty trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính của khu vực. Cuộc khủng hoảng ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội đầu tư và hiệu quả hoạt động của các công ty.
Tác giả sử dụng biến Tobin’q để đo lường giá trị công ty.