Chương 1 TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIEN QUAN Trong chương này, luận án sẽ giới thiệu các quan điểm nghiên cứu có liên quan đến luận án trong và ngoài nước, từ đó dé rút ra các quan điểm nghiên cứu có liên quan đến chi phí thất bại, động cơ tái khởi nghiệp, nhận thức (học hỏi sau thất bại), vốn con người và quyết định tái khởi nghiệp của doanh nhân. Mục đích của chương này là chỉ rõ được khoảng trống nghiên cứu về lý thuyết cũng như các căn cứ tiền đề dé đề xuất mô hình với các giả thuyết nghiên cứu. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI LUẬN ÁN 1. Doanh nhân Trong một khoảng thời gian, đã có sự thừa nhận rộng rãi kinh doanh là động cơ thúc đây nền kinh tế của hầu hết các quốc gia.
Điều nay dẫn đến nhiều nghiên cứu cũng như sự quan tâm đến các vấn đề nhằm phát triển hoạt động kinh doanh. Theo quan điểm của Friedman (Friedman, 1987) “Kinh doanh (business) là nghề nghiệp hoặc hoạt động thương mại mưu cầu lợi nhuận bằng VIỆC cung cấp sản phẩm hoặc dich vụ. Kinh doanh do các doanh nhân (entrepreneur) bỏ vốn cho một hoạt động chịu rủi ro để kiếm lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh được gọi là doanh nghiệp, quy mô của nó từ hộ kinh doanh của chủ sở hữu cá thê đến công ty, tập đoàn quốc tế có vốn hàng tỉ USD và sử dụng hàng nghìn lao động.
Doanh nhân là: (i) Người hoạt động kinh doanh, đặc biệt là người chủ, giám đốc hoặc quản lý cao cấp của một công ty; (ii) Người có tô chất cần thiết dé kinh doanh thành công”. Doanh nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các thực thê kinh tế mới là trung tâm của cuộc cách mạng của các tổ chức và các nền kinh tế. Đề góp phan vào tăng trưởng va phát triển kinh tế quốc gia, hoạt động của các doanh nghiệp có nhiệm vụ quan trọng trong việc khuyến khích sáng tạo, điều này cũng góp phan cải thiện khả năng cạnh tranh trong nước cũng như quốc tế. Trên thế giới nghiên cứu về doanh nhân là một lĩnh vực được nhiều học giả khai thác nghiên cứu.
Một số các hướng nghiên cứu về doanh nhân tập trung vào nghiên cứu các động cơ thôi thúc trở thành doanh nhân. Trở thành một doanh 8 nhân hay làm việc như một công nhân bình thường là câu hỏi khó mà không ít người phải đối mặt khi lựa chọn sự nghiệp cho bản thân. Trở thành một doanh nhân, người sáng lập, tổ chức, điều hành và chịu trách nhiệm cho công việc kinh doanh mới, có thể mang lại cho bản thân nhiều cơ hội đương đầu với những khó khăn là điều mà rất nhiều người mong muốn hơn là trở thành một công nhân làm thuê cho chủ. Có rất nhiều lý do dé một người lựa chọn trở thành một doanh nhân.
đề cập hai loại nguyên nhân liên quan mật thiết đến động cơ thúc đây trở thành nhà doanh nghiệp, bao gồm lý thuyết “kéo” và “đây”. Những yếu tổ tiêu cực từ bên ngoài có thé xem như những nguyên nhân “đây” một người trở thành một nhà doanh nghiệp, như: mat việc, các vấn dé trong công việc, sự không thoải mái với môi trường làm việc, thời gian biểu thiếu linh hoạt, hay thậm chí mức thu nhập không đủ, trong khi đó lý thuyết “kéo” đề cập đến những yếu tố bên trong mỗi cá nhân bao gồm mong muốn làm việc độc lập, tự hoàn thiện bản thân, quyền lực, danh tiếng và rất nhiều yếu tô khác. Đây là những yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định trở thành doanh nhân. Hơn thế, khi trở thành một doanh nhân, người ta mong muốn nhận được nhiều hơn mức tiền lương từ công việc làm thuê và họ cũng kì vọng hơn vào một tương lai tốt đẹp., và tranh luận rằng những yếu tố “kéo” có nhiều ảnh hưởng hơn so với những yếu tố “đây” trong việc quyết định trở thành một doanh nhân.
Thêm vào đó, doanh nhân và những hoạt động của họ luôn thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu những yếu tố mang lại thành công trong sự nghiệp kinh doanh. Một số nhà nghiên cứu khác tập trung khai thác và tìm hiểu chỉ tiết về những thất bại của doanh nhân. Tuy nhiên mức mức độ tập trung nghiên cứu sự thất bại của các doanh nhân là chưa thỏa đáng. Dé hiểu chỉ tiết hơn về các doanh nhân, việc tìm hiểu toàn bộ các khía cạnh là hoàn toàn cần thiết.
Nói cách khác, các nhà nghiên cứu không nên chỉ tập trung vào những yếu tố mang lại thành công cho doanh nhân mà còn cần dành nhiều nỗ lực hơn cho cả lĩnh vực thất bại trong kinh doanh. Một số học giả tập trung nghiên cứu lý do dẫn đến thất bại của doanh nhân. Theo nghiên cứu của họ phát hiện ra rằng nguyên nhân của sự thất bại 9 thật ra là một lĩnh vực quan trọng của việc điều tra, giống như việc giải thích vì sao công việc kinh doanh thất bại có thé cải thiện công việc kinh doanh sau đó. Cuối cùng, như đã đề cập: mọi doanh nhân đều khởi nghiệp với mong muốn đạt được thành công.
Nhưng mong muốn này đôi khi là không đủ để đảm bảo thành công trong kinh doanh. Hơn thế, việc thành lập một doanh nghiệp mới luôn gan liền với những rủi ro mà nếu không có những nỗ lực to lớn, công việc kinh doanh thường sẽ thất bại. Không nghỉ ngờ rằng, việc một doanh nhân mới có thê tồn tại và đạt được thành công trong môi trường toàn cầu hóa thường xuyên biến động phức tạp là vô cùng khó khăn, đặc biệt là khi những doanh nghiệp đó chỉ có nguồn nhân lực và nguồn lực từ chính bản thân doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, thất bại trong kinh doanh sẽ dẫn tới rất nhiều chi phí cho doanh nhân, chăng hạn như những chỉ phí tài chính được dé cập bởi ,, , những chi phí xã hội được nhắc đến bởi.
Các chi phí khác từ hậu quả của sự thất bại trong kinh doanh cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Thời gian gần đây, một số nhà khoa học không chỉ tập trung vào phân tích một chi phí thất bai đơn lẻ mà còn quan tâm đến tông thé những chi phi thất bại và sư ảnh hưởng của những chi phi đó đến cuộc sống của doanh nhân sau thất bại. Bên cạnh đó, một số học giả lại tập trung nghiên cứu cơ hội học hỏi cho doanh nhân. Các nghiên cứu trước đây cũng cho rằng, việc thất bại trong kinh doanh dẫn đến việc cải thiện những kỹ năng kinh doanh mà có thé áp dụng cho các công việc kinh doanh tiếp theo(.
Hơn nữa, những ki năng này theo cách nào đó cũng có thể ảnh hưởng đến động lực và việc ra quyết định của nhà doanh nghiệp, chăng hạn: một doanh nhân thất bại có thể trì hoãn việc bắt đầu lại một công việc kinh doanh hoặc ngược lại quyết đoán hơn để dành được một công việc kinh doanh mạo hiểm. Tiếp cận từ hoạt động kinh doanh, theo định nghĩa thông dụng, kinh doanh là hoạt động mưu cầu lợi nhuận (nói “mưu cầu” bao quát hơn “làm ra” vì có khi kinh doanh bị lỗ). Theo Hoàng Phê (Hoàng Phê, 1997), “Kinh doanh là t6 chức việc sản xuât, buôn ban sao cho sinh lov’. 10 Tiếp cận theo quan điểm của Luật doanh nghiệp: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Luật Doanh nghiệp, 2005).
Trong nghiên cứu của mình và cộng sự, Hoàng Văn Hoa (Hoàng Văn Hoa và cộng sự, 2010) cho rằng có sự khác biệt giữa thuật ngữ người kinh doanh, nhà quản lý và doanh nhân. Doanh nhân là người tham gia vào hoạt động thương mại, đặc biệt là ở vị trí cấp cao. Sự khác biệt thé hiện cụ thé: (i) Người kính doanh là người làm việc hoặc được thuê trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là người sở hữu, hoặc giữ vi trí cao trong doanh nghiệp lớn hoặc quan trọng; (ii) Nhà quản lý kinh doanh là người được thuê quản lý hoạt động kinh doanh có tính chuyên nghiệp và là người làm việc trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, có tránh nhiệm với các van đề hành chính và tài chính; (iii) Doanh nhân là người tô chức các nhân tô sản xuất, đất đai, lao động, vốn đề sản xuất và bán hàng hóa nhằm thu lợi. Khi đó, doanh nhân theo góc nhìn kinh tế học được xem như nhà kế hoạch và chấp nhận rủi ro và đối với hầu hết các nhà kinh tế học, doanh nhân là yếu tô thứ tư trong quá trình sản xuất mà thiếu yếu tổ này thì các yếu tô kia không thé hoạt động có hiệu quả được.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trong quá trình xây dựng Đề án: “Phát huy vai trò của doanh nhân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế” đã đề xuất khái niệm doanh nhân: doanh nhân là người chủ sở hữu hoặc đại điện chủ sở hữu trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh khác; sáng tạo, dám chấp nhận mạo hiểm, có trách nhiệm xã hội; là lực lượng chủ yếu tạo lập và phát triển một mô hình tổ chức kinh doanh mới, đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại. Theo khái niệm này, doanh nhân bao gồm cả những người trực tiếp quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp của doanh nghiệp và các loại hình khác nhau như hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thé (VCCI, 2010). 11 Doanh nhân ngày này đang ngày càng nhận được sự tôn trọng của xã hội. Trở thành doanh nhân dang là ước muốn của gần 1/4 người trưởng thành ở Việt Nam.
Lần đầu tiên, trong lịch sử Việt Nam, hai từ “Doanh nhân” đã xuất hiện trong Hiến pháp 2013 và năm 2016 được chọn là năm Quốc gia khởi nghiệp. Chính những nhận thức tích cực này sẽ góp phần thúc day việc khởi sự kinh doanh và giúp các doanh nhân Việt Nam có điều kiện dé phát triển tốt hơn. Quan điểm về thất bại Từ quan điểm học thuật, rất nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu về chủ đề doanh nghiệp thất bại và họ đều có những ý kiến riêng về nghĩa của từ thất bại trong nghiên cứu của mình (Shepherd, 2003b; Zacharakis et al.