CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về Tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV: 1. Khái niệm và tiêu chí xác định DNNVV: Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì doanh nghiệp được hiểu: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay để tạo thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển, người ta thường phân loại doanh nghiệp theo các hình thức như sau: - Căn cứ vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản.
- Căn cứ vào mục đích kinh doanh. - Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh. - Căn cứ vào quy mô kinh doanh. Chính nhờ cách phân loại như vậy góp phần giúp Nhà Nước có được những chiến lược và những chính sách phù hợp cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau trong từng thời kỳ, từng giai đoạn kinh tế xã hội khác nhau.
Theo điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV Chính Phủ ban hành ngày 30/06/2009 thì khái niệm DNNVV được nêu rõ: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã được đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), ngoài các tiêu chí trên Nghị định này còn căn cứ vào ngành kinh doanh để phân loại, cụ thể: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 QUI MÔ Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn KHU VỰC I. Nông, 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 lâm nghiệp trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.
Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV 1. Khái niệm và phân loại tín dụng Ngân hàng Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.2 Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong xã hội. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, do vậy trong quan hệ tín dụng với các chủ thể kinh tế khác ngân hàng có thể vừa là người đi vay, vừa là 1 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV- Điều 3 2 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 – Khoản 14 - Điều 98 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng.
Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng đáp ứng kịp thời vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, cá nhân từ đó góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển. Ngân hàng là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.3 Ngân hàng huy động vốn và cho vay ra với những thời hạn rất phong phú, linh hoạt: cả ngắn, trung và dài hạn theo nhu cầu khách hàng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho bản thân hoặc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước. Tại điểm 3, điều 98 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 qui định Cấp tín dụng được thực hiện dưới các hình thức sau đây: Cho vay; Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.4 Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành những tiêu thức dưới đây: Căn cứ vào mục đích tín dụng - Tín dụng sản xuất kinh doanh: ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ,. - Tín dụng tiêu dùng: ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền, cho vay để trang trải các chi phí của đời sống, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng… Đối với DNNVV, xét về mục đích tín dụng chủ yếu là tín dụng sản xuất kinh doanh.
3 Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Thị Nhung (2007) ,Tiền tệ Ngân hàng , NXB Thống kê – Trang 75 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 - Điều 98 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: theo quy định của Việt Nam, tín dụng ngắn hạn có thời hạn tối đa đến 12 tháng. Cho vay ngắn hạn sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay của ngân hàng với thời hạn trên một năm đến năm năm. - Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay của ngân hàng với thời hạn trên năm năm.
Cho vay trung, dài hạn nhằm bù đắp thiếu hụt vốn trung dài hạn phục vụ mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng… Đối với Tín dụng DNNVV đều có thể cho vay ở tất cả các thời hạn ngắn, trung và dài hạn. Căn cứ vào bảo đảm của tín dụng - Tín dụng không có đảm bảo: Ngân hàng cho vay dựa trên cơ sở uy tín, tín nhiệm bản thân khách hàng vay. - Tín dụng có đảm bảo: Ngân hàng cho vay trên cơ sở phải có sự đảm bảo bằng tài sản của người đi vay hoặc sự bảo lãnh của chủ thể thứ ba. Đối với tín dụng DNNVV áp dụng cả hai hình thức tín dụng không có đảm bảo và tín dụng có đảm bảo.
Căn cứ vào hình thức vốn tín dụng - Tín dụng bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng được ngân hàng cung cấp bằng tiền. - Tín dụng bằng tài sản: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng được ngân hàng cung cấp bằng tài sản. Ví dụ như tín dụng thuê mua. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả - Tín dụng trả góp: Ngân hàng cho vay và khách hàng vay phải hoàn trả dần vốn gốc và lãi theo định kỳ.
- Tín dụng phi trả góp: Ngân hàng cho vay và khách hàng vay phải hoàn trả toàn bộ vốn một lần khi đáo hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại cho vay của ngân hàng mà việc thu nợ của ngân hàng được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả của người đi vay, trên cơ sở khả năng của người đi vay và trong thời hạn hợp đồng đã thỏa thuận. Căn cứ vào tính chất hoàn trả - Tín dụng hoàn trả trực tiếp: Ngân hàng cho vay và việc hoàn trả nợ được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay. - Tín dụng hoàn trả gián tiếp: Là loại cho vay của ngân hàng mà việc trả nợ không được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay mà phải gián tiếp thông qua người thụ lệnh của người đi vay, như các khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước nợ hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.5 Căn cứ phương thức cho vay - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là số dư nợ cho vay cao nhất mà ngân hàng cam kết sẽ thực hiện cho một khách hàng, có hiệu lực trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm.
Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của ngân hàng. Khi đã được ngân hàng ấn định hạn mức tín dụng thì khách hàng được quyền vay vốn với số dư trong phạm vi của hạn mức tín dụng đó. Nếu khách hàng vay trả nhiều đợt trong kỳ thì tổng số tiền cho vay có thể vượt quá hạn mức tín dụng nhiều lần, điều này càng tốt vì vòng quay vốn tín dụng gia tăng. - Cho vay từng lần: Áp dụng cho các đơn vị tổ chức kinh tế có nhu cầu vay vốn không thường xuyên có tính chất đột xuất, không được ấn định hạn mức tín dụng.
Cho vay từng lần có đặc điểm sau: Vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một quy trình nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn của đơn vị. Về phía ngân hàng việc cho vay và thu nợ được xử lý theo từng món vay. Mỗi lần phát sinh nhu cầu vay vốn bắt buộc bên vay phải tiến hành các thủ tục làm giấy 5 Lê Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Thị Nhung (2007) ,Tiền tệ Ngân hàng , NXB Thống kê – Trang 51, 52, 53 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đề nghị vay vốn kèm theo các chứng từ hóa đơn để cán bộ tín dụng kiểm tra đối tượng vay vốn, nếu đối tượng vay vốn phù hợp sẽ giải quyết cho vay.