Chương 1: Cơ sở lý luận về mở rộng dịch vụ thẻ tại NHTM. Chương 2: Thực trạng mở rộng dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quy Nhơn. Chương 3: Giải pháp mở rộng dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quy Nhơn. CƠ S LÝ L ẬN VỀ M RỘNG DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại 1. Cơ sở lý luận về thẻ ngân hàng 1. Khái niệm thẻ ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), từ các góc độ xem xét, nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra các khái niệm về thẻ khác nhau. Nhưng tựu chung lại, bản chất của thẻ là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp.
Thẻ không hoàn toàn là tiền lệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng. Bản chất của thẻ có thể hiểu qua các khái niệm về thẻ như sau: - Theo khái niệm tổng quát, thẻ là một danh từ chung chỉ một vật nhỏ, gọn, chứa đụng các thông tin nhằm sử dụng vào một hoặc một số mục đ ch nào đó. Do vậy, thẻ sẽ được gắn với những tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để trở thành một loại cụ thể như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ. - Theo giác độ phát hành, thẻ là một phương tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt.
- Theo giác độ công nghệ thanh toán, thẻ là phương thức thanh toán ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thực hiện trên hệ thống thanh toán được kết nối giữa các chủ thẻ tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông. Theo Hoàng Tuấn Linh (2009), thẻ là phương tiện do ngân hàng và các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán 11 hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt. Thẻ là chìa khóa đa năng để chủ thẻ kết nối với các chủ thẻ khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được thỏa thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình. Theo Phạm Thị Bích Duyên (2016), thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiên tiến và hiện đại.
Thẻ ngân hàng ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Phân loại thẻ ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), thẻ ngân hàng có thể được phân loại theo các góc độ khác nhau, như sau: - Phân loại theo công nghệ sản xuất, bao gồm: thẻ khắc chữ nổi, thẻ từ và thẻ thông minh.
+ Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card) là loại thẻ được làm bằng nhựa dựa trên kỹ thuật khắc nổi với các thông tin cần thiết được khắc trên thẻ. Công nghệ này được sử dụng từ khi phát hành những tấm thẻ nhựa đầu tiên và hiện nay không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật quá thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả. + Thẻ từ (Magnetic Stripe Card) là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau thẻ. Mọi thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều được mã hoá trong băng từ.
Đây là loại thẻ hiện nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. + Thẻ thông minh (Smart Card) là giai đoạn phát triển hiện tại của thẻ ngân hàng, thể hiện những ứng dụng hiện đại nhất của công nghệ thông tin 12 vào lĩnh vực thẻ, đó là việc sử dụng ch p điện tử. Thông thường, một tấm thẻ thông minh được gắn ch p điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ. - Phân loại theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: thẻ nội địa và thẻ quốc tế.
Việc phân loại thành thẻ nội địa hay thẻ quốc tế là dựa trên phạm vi chủ thẻ có thể sử dụng thẻ, còn về mặt t nh năng thì cả thẻ nội địa hay thẻ quốc tế đều có thể là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ trả trước. + Thẻ nội địa được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác trong nước. + Thẻ quốc tế được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ ở cả trong nước và ở nước ngoài. Các thương hiệu thẻ quốc tế là Visa, MasterCard, JCB, American Express, UnionPay, Diners Club - Phân loại theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng.
+ Thẻ ghi nợ (Debit Card) là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy giao dịch tự động (ATM). Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản, ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ và thu phí dịch vụ. Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng là có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ. Chính vì vậy, về mức độ có thể thay thế tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội hơn so với thẻ tín dụng.
+ Thẻ tín dụng (Credit Card) là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép người sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. 13 Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT) khác nhau. Chủ thẻ phải thanh toán số dư nợ trong một thời gian nhất định nếu không chủ thẻ sẽ phải chịu lãi suất theo thông báo của ngân hàng. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu.
Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên nhiều tiêu ch như: thu nhập, tình hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp của khách hàng. Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán hiện đại, văn minh và có tính thông dụng trên toàn thế giới. Không chỉ thanh toán trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà thẻ tín dụng quốc tế có thể được chấp nhận thanh toán ở các đơn vị có biểu tượng của thẻ đó trên khắp thế giới.
Vai trò của thẻ ngân hàng - Đối với chủ thẻ: + An toàn và được bảo vệ: Thẻ mang tính chất như một chiếc v điện tử, dùng để chi trả thay cho tiền mặt. Mỗi thẻ có mã riêng, được chế tạo dựa trên kĩ thuật công nghệ hiện đại, tinh vi, và khó làm giả nên tính an toàn của thẻ rất cao. Hơn nữa, thẻ còn có chữ ký của chủ thẻ, cho nên khi mua hàng hoá, dịch vụ, chủ thẻ phải ký vào hoá đơn thanh toán để người bán so sánh với chữ ký mẫu. Điều này cùng với các thông tin được mã hoá trên thẻ tạo nên rào chắn trước nguy cơ bị kẻ gian lợi dụng.
Thêm nữa, chủ thẻ là người duy nhất có quyền sử dụng thẻ và biết mã số định danh cá nhân (PIN). Nếu bị mất thẻ hay lộ PIN thì ngay lập tức, chủ thẻ cần thông báo ngay cho ngân hàng để phong toả tài khoản thẻ. Người có thẻ khó sử dụng vì thẻ có chữ ký và đôi khi cả hình của chủ thẻ. Khi sử dụng để thanh toán chi tiêu, không phải 14 mang theo lượng tiền mặt lớn.
Với sự phát triển của các thiết bị kiểm tra hiện đại cũng như sự ra đời của thẻ thông minh, tính an toàn của thẻ thanh toán còn tiếp tục được nâng cao trong tương lai. + Nhanh chóng và thuận tiện: Với k ch thước gọn nhẹ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo người và sử dụng thẻ để thanh toán các loại hàng hoá, dịch vụ thông qua một mạng lưới rộng rãi các cơ sở chấp nhận thẻ trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, t nh linh hoạt và thuận tiện của thẻ còn thể hiện rõ ràng khi chủ thẻ đi du lịch hay công tác nước ngoài. Với thẻ ghi nợ, khách hàng tự thực hiện giao dịch với ngân hàng qua các máy giao dịch tự động (ATM) khi rút tìền mặt hoặc tại các điểm chấp nhận thẻ khi chủ thẻ thanh toán tiền mua sắm hàng hoá, dịch vụ bằng số tiền trong tài khoản của mình thay vì phải đến ngân hàng.
Với thẻ tín dụng, chủ thẻ đang nhận được một khoản tín dụng tiêu dùng tự động, tức thời. Với hạn mức tín dụng mà ngân hàng cung cấp, chủ thẻ có điều kiện mở rộng các giao dịch tài chính trong khả năng thu nhập có hạn. Đối với thẻ ghi nợ, chủ thẻ thậm ch còn được hưởng một mức thấu chi nhất định trên tài khoản tiền gửi của mình. Ngoài ra, khi sử dụng thẻ, khách hàng còn được sử dụng một số dịch vụ khác của ngân hàng.
+ Tiết kiệm và hiệu quả: Để được sở hữu một tấm thẻ, chủ thẻ phải trả khoản phí nhỏ hơn nhiều so với những tiện ch mà nó đem lại.