Phần mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan về xếp hạng tín nhiệm ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng xếp hạng tín nhiệm NHTM tại Viêt Nam - Chƣơng 3: Xây dựng mô hình và giải pháp phát triển xếp hạng tín nhiệm ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam 6. Các điểm mới và giới hạn của luận văn - Điểm mới của đề tài: Xếp hạng tín nhiệm NHTM tại VN là vấn đề tƣơng đối mới đối với thị trƣờng tài chính VN nói chung và hệ thống NHTM nói riêng. Bên cạnh những ý nghĩa về tài chính, kinh tế, xã hội, luận văn cũng có những đóng góp về mặt lý thuyết cũng nhƣ về mặt phƣơng pháp nghiên cứu: Mặt lý thuyết: + Nghiên cứu đã tổng hợp khung lý thuyết chung về yếu tố ảnh hƣởng đến xếp hạng tín nhiệm NHTM (yếu tố tài chính và yếu tố phi tài chính). + Nghiên cứu khám phá và xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến xếp hạng tín nhiệm NHTM.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 + Nghiên cứu định lƣợng và kiểm định mô hình các yếu tố tác động đến xếp hạng tín nhiệm NHTM. + Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính và định lƣợng, xây dựng mô hình XHTN NHTM tại VN. Mặt phƣơng pháp: + Luận văn đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu kết hợp giữa phƣơng pháp nghiên cứu định tính và phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng kết hợp với những lý thuyết trong xếp hạng và những lý thuyết về phân tích tài chính ngân hàng để đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng các nhân tố trong việc xây dựng mô hình xếp hạng tín nhiệm NHTM. + Phƣơng pháp và kết quả nghiên cứu có thể định hƣớng cho những nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm NHTM hoặc ứng dụng trong thực tế để thực hiên xếp hạng tín nhiệm hệ thống NHTM tại Việt Nam.
- Giới hạn của luận văn: + Về phạm vi nghiên cứu: Chỉ thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh chƣa mở rộng ra cả nƣớc hoặc một số Thành phố lớn khác tại VN nhƣ: Thành phố Hà Nội, Thành phố Đà Nẵng, Thành phố Nha Trang, …. + Về đối tƣợng nghiên cứu: Chỉ thực hiện chọn mẫu, do đó kết quả nghiên cứu chƣa bao quát toàn thị trƣờng. + Ngƣời thực hiện phỏng vấn: Do hạn chế về kinh phí nên chƣa thuê đƣợc bộ phận chuyên về nghiên cứu thị trƣờng để thực hiện nghiên cứu định tính và cả nghiên cứu định lƣợng mà do chính tác giả thực hiện. + Nội dung nghiên cứu: chƣa so sánh trực tiếp với mô hình xếp hạng tín nhiệm NHTM trên thế giới mà một số tổ chức có uy tín đang sử dụng nhƣ: Moody, S&P, Fitch, ….
Mặt khác nghiên cứu cũng chƣa thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến Chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam. Những hạn chế này sẽ tiếp tục mở ra những cơ hội và vấn đề nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Định nghĩa xếp hạng tín nhiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Xếp hạng tín nhiệm Xếp hạng tín nhiệm (Credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: sự tín nhiệm, ratings: sự xếp hạng) do John Moody đƣa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đƣờng sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ theo một hệ thống ký hiệu gổm 3 chữ cái ABC đƣợc xếp lần lƣợt từ Aaa đến C (Hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế). Việt Nam thì thuật ngữ “Credit ratings” đƣợc dịch ra với nhiều nghĩa khác nhau nhƣ xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng, định mức tín dụng, định mức tín nhiệm, đánh giá tín nhiệm, …. Trong luận văn này tôi thống nhất dùng thuật ngữ xếp hạng tín nhiệm gọi tắt là XHTN. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về XHTN.
Mỗi tổ chức, cá nhân khi nghiên cứu vấn đề về XHTN đều đƣa ra một định nghĩa cho riêng. Tham khảo một số định nghĩa của các tổ chức, cá nhân nổi tiếng trên thế giới. Theo Standards & Poor, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lƣợng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn. Theo Moody's, xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về chất lƣợng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa-C.
Theo định nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Research Institute) thì XHTN là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó.Ong trong cuốn “Credit Rating” thì Xếp hạng tín nhiệm là việc phân loại. Xếp hạng tín nhiệm là một sự sắp xếp thứ hạng của tín nhiệm. Xếp hạng tín nhiệm là một quá trình phân biệt giữa tín dụng “tốt” và tín dụng "xấu". Khoảng giữa của tín dụng “tốt” và tín dụng "xấu"là bao gồm tất cả các mức đƣợc xếp dƣới mức tốt và trên mức xấu.
Sự phân biệt này phụ thuộc vào văn hóa xếp hạng của các tổ chức xếp hạng và mục đích sử dụng. Do đó, Xếp hạng tín nhiệm là một quá trình đánh giá các khoản tín dụng đã đƣợc xếp hạng và phân loại thành các cấp độ rủi ro khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Mỗi mức độ phân loại đại diện cho một tuyên bố rõ ràng và chính xác về khả năng tín dụng của công ty đƣợc đánh giá. Xếp hạng tín nhiệm cũng là một quá trình dự đoán hƣớng tới tƣơng lai.
Bời vì xếp hạng tín nhiệm đƣợc xác định tại thời điểm khởi đầu của quá trình tín dụng, xếp hạng tín dụng là việc sử dụng thông tin quan sát để cập nhật kết quả xếp hạng, mục tiêu cuối cùng của quá trình Xếp hạng tín nhiệm là để cố gắng dự báo về sự mất mát tiềm năng (nhƣ định lƣợng bởi sự mất mát dự kiến) tín dụng làm giảm giá trị toàn bộ của cấu trúc cho đến khi sự sụp đổ cuối cùng của nó hoặc mặc định. Vì vậy, xếp hạng tín dụng là một quá trình dự báo sử dụng những thông tin đƣợc biết đến và những thông tin hiện có để dự báo hậu quả tiềm năng trong tƣơng lai. Theo Trần Đắc Sinh trong cuốn “Định mức tín nhiệm tại Việt Nam” do Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2002 thì XHTN là việc đƣa ra các nhận định hiện tại về mức độ tín nhiệm của nhà phát hành đới với một trách nhiệm tài chính nào đó, hoặc là đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loại đầu tƣ khác nhau. Các loại đầu tƣ có thể dƣới dạng chứng khoán nhƣ là trái phiếu, cổ phiếu ƣu đãi và giấy nhận nợ hoặc các công cụ cho vay khác nhƣ vay và tiền gửi tại ngân hàng, các thƣơng phiếu.
Từ các định nghĩa trên, theo tác giả thì XHTN là việc đƣa ra các nhận định hiện tại của một tổ chức xếp hạng, thể hiện ý kiến chuyên gia để nhận định về mức độ tín nhiệm tài chính nào đó, hoặc đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loại đầu tƣ khác nhau và đƣợc thể hiện thông qua một hệ thống các ký hiệu xếp hạng. Các đầu tƣ này có thể dƣới dạng: chứng khoán nhƣ cổ phiếu ƣu đãi, trái phiếu, và giấy nhận nợ hoặc các công cụ cho vay khác nhƣ vay, gởi tiền tại ngân hàng và các loại thƣơng phiếu. Xếp hạng tín nhiệm NHTM tại VN Theo CRV thì “Xếp hạng tín nhiệm” để chỉ khả năng cạnh tranh trên trƣờng quốc tế của mỗi quốc gia; để chỉ năng lực của các địa phƣơng trong việc thu hút vốn đầu tƣ cũng nhƣ tạo cơ sở cho phát triển kinh tế; để chỉ mức đóng góp của mỗi ngành đối với nền kinh tế cũng nhƣ vạch ra các ngành then chốt trong các giai đoạn phát triển của quốc gia; để chỉ ra khả năng tiếp cận với công nghệ mới của các địa phƣơng, các ngành cũng nhƣ mỗi doanh nghiệp và cuối cùng mới là để chỉ ra khả năng tài chính của mỗi công ty trong việc hoàn trả nợ trong việc phân định mức độ tin tƣởng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 trong khả năng chi trả của một doanh nghiệp hay nhà phát hành. Tóm lại thuật ngữ “ Xếp hạng tín nhiệm của CRV gồm 5 nội dung sau: (1) Xếp hạng khả năng cạnh tranh quốc gia; (2) Xếp hạng năng lực cạnh tranh của các địa phƣơng; (3) Xếp hạng đóng góp của các ngành đối với tăng trƣởng của cả nƣớc; (4) Xếp hạng tiến bộ công nghệ của các địa phƣơng, các ngành và các doanh nghiệp và cuối cùng là xếp hạng tín nghiệm của các doanh nghiệp theo thuật ngữ mà John Moody đƣa ra năm 1909.
Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của nội dung xếp hạng đó là XHTN NHTM tại Việt Nam. Với vai trò là trung gian tài chính, các NHTM sẽ nhận đƣợc rất nhiều hỗ trợ của các cơ quan chính phủ. Các biện pháp hỗ trợ có thể là: bơm thêm vốn, mua tài sản, cung cấp thanh khoản,. Khi một cam kết đƣa ra, các tổ chức xếp hạng phải xem xét đánh giá về mức độ khả thi của cam kết và mức ảnh hƣởng của nó đến hệ thống ngân hàng.
Do ảnh hƣởng của các yếu tố bên ngoài nên các tổ chức xếp hạng sẽ đồng thời đƣa ra hai đánh giá cho cùng một ngân hàng. Chỉ số độc lập (Stand-alone rating) chỉ phản ánh sức mạnh nội tại của ngân hàng và khả năng vỡ nợ của ngân hàng. Còn All-in rating xem xét đến tất cả các yếu tố hỗ trợ bên ngoài ảnh hƣởng đến ngân hàng. Chủ nợ và các đối tác sẽ sử dụng All-in rating, trong khi đó Stand-alone rating có ý nghĩa nhiều đối với các cơ quan chính phủ.
Do luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi là các NHTM tại Việt Nam nên tất cả các NHTM hoạt động tại Việt Nam đều nhận đƣợc sự hỗ trợ từ các yếu tố bên ngoài, từ các cơ quan chính phủ với giả thuyết chung đƣợc xem là gần nhƣ nhau. Do đó, luận văn chỉ nghiên cứu về xếp hạng tín nhiệm sức mạnh tài chính nội tại của các NHTM tại Việt Nam.