CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH XẾP HẠNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay tiêu dùng cá nhân Cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho mục đích tiêu dùng (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm của một khoản vay nói chung, đó là thời hạn vay, tính hoàn trả và lãi suất. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn có những điểm đặc thù sau: - Đối tượng được cấp tín dụng: Là cá nhân có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; Có nguồn thu nhập ổn định bảo đảm trả được nợ vay cho ngân hàng; Có tài sản bảo đảm hoặc được sự bảo lãnh của bên thứ ba.
- Mục đích tín dụng: Để mua hàng hoá và dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng, chứ không phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh. Các hàng hoá, dịch vụ chủ yếu gồm: nhà ở, đất ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, giáo dục, y tế, du lịch,. - Quy mô các món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay lại lớn. Do các món vay có giá trị nhỏ, nên chi phí tổ chức cho vay cao, đây là một trong những nguyên nhân khiến cho lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại hay công nghiệp.
- Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi kinh tế tăng trưởng, người dân lạc quan về thu nhập trong tương lai nên có xu hướng tăng chi tiêu cho tiêu dùng, kích thích tín dụng tiêu dùng tăng trưởng; Ngược lại, khi kinh tế suy thoái, thu nhập của người dân giảm, họ bi quan lo lắng về nguy cơ thất nghiệp nên có xu hướng tiết kiệm, chi tiêu ít hơn, khiến cho tín dụng tiêu dùng giảm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 - Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có mối quan hệ mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng: Người có thu nhập càng cao thì chi tiêu càng nhiều, việc vay mượn được xem như công cụ để đạt được mức sống cao hơn, tiện nghi hơn; Người vay có trình độ học vấn cao thì các khoản vay của họ thường an toàn hơn không chỉ vì có nguồn trả nợ tốt, mà còn do nhận thức, ý thức trả nợ, và tư cách đạo đức của người vay. Học vấn cao thường nhận được sự tin tưởng của các TCTD nên họ dễ dàng được vay và có xu hướng vay được nhiều hơn.
Ngược lại, những người có học vấn thấp thường vay khó hơn, số tiền vay được ít hơn, chịu sự giám sát chặt chẽ của các TCTD, thậm chí không được cấp tín dụng. - Chất lượng thông tin tài chính của cá nhân vay tiêu dùng thường không cao. Trong khi các công ty muốn vay vốn ngân hàng thì phải xuất trình các báo cáo tài chính và thường phải có xác nhận của công ty kiểm toán; còn thông tin tài chính cá nhân rất khó kiểm chứng được. Mặt khác, các thông tin về khách hàng cá nhân chủ yếu là do khách hàng tự cung cấp nên độ chính xác không cao.
- Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định, song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Cũng như bất kỳ khoản vay nào, đây là chỉ tiêu quan trọng để ngân hàng thẩm định trước khi quyết định cấp tín dụng. Đối với cho vay tiêu dùng, thì tư cách người vay lại càng có vai trò quan trọng, nhưng đây là yếu tố định tính nên ngân hàng khó xác định chính xác. Tư cách người vay quyết định đến việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và là yếu tố quyết định thiện chí hoàn trả nợ vay.
Do đó, tư cách của người vay càng được đánh giá cao, thì khả năng trả nợ của khách hàng càng cao, rủi ro tín dụng càng thấp. Tổng quan về xếp hạng tín dụng cá nhân vay tiêu dùng 1. Khái niệm xếp hạng tín dụng cá nhân vay tiêu dùng Xếp hạng tín nhiệm (credit ratings) là thuật ngữ do John Moody (người sáng lập công ty đánh giá tín dụng Moody’s của Mỹ, là một trong 3 công ty đánh giá tín dụng lớn nhất trên thế giới hiện nay) đưa ra năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt”, khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 đầu tiên cho 1500 trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt từ Aaa (mức ổn định cao nhất) đến C (mức rủi ro cao nhất). Hiện nay, những ký hiệu này trở thành chuẩn mực quốc tế.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “credit rating” được dịch với nhiều nghĩa khác nhau, như: xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng, đánh giá tín nhiệm. Thuật ngữ “xếp hạng tín nhiệm” có nội dung rộng hơn thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” vì nó không chỉ là xếp hạng (hoặc đánh giá) về năng lực tài chính mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác. Trong bài nghiên cứu này, tác giả chỉ xem xét đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc trả nợ của đối tượng được cấp tín dụng nên tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” xuyên suốt trong bài nghiên cứu. Có nhiều định nghĩa khác nhau về xếp hạng tín dụng.
Tuy nhiên đặc điểm chung của XHTD là công việc chấm điểm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của một đối tượng trên cơ sở đo lường rủi ro tín dụng. Với tổng điểm đạt được, đối tượng đó sẽ được xếp vào một nhóm các đối tượng có chung mức độ rủi ro tín dụng. Theo đó, có thể khái quát một cách đơn giản như sau: “XHTD là việc chấm điểm tín dụng để phân loại, sắp xếp một đối tượng trên cơ sở đo lường rủi ro tín dụng” (Nguyễn Trọng Hoà, 2010). Đối tượng của XHTD là các cá nhân, doanh nghiệp xin cấp tín dụng, các quốc gia,.
Như vậy, XHTD cá nhân vay tiêu dùng là việc chấm điểm tín dụng để phân loại, sắp xếp một cá nhân xin vay vốn phục vụ cho mục đích tiêu dùng, trên cơ sở đo lường rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng do khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn theo cam kết (Trần Huy Hoàng, 2011). Đặc điểm của xếp hạng tín dụng cá nhân vay tiêu dùng: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Được tiến hành dựa trên những thông tin của đối tượng xin cấp tín dụng. - Chỉ thực hiện chức năng đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của một cá nhân vay tiêu dùng.
- Chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. - Không bao gồm các chỉ tiêu tài chính, gồm nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu cân nợ, nhóm chỉ tiêu thu nhập, nhóm chỉ tiêu dòng tiền; và cũng không bao gồm các chỉ tiêu phi tài chính như: ngành nghề kinh doanh, triển vọng ngành, thị trường và khách hàng tiêu thụ, vị thế cạnh tranh, đối thủ cạnh tranh, sự phụ thuộc vào các đối tác, trình độ và chất lượng đội ngũ quản lý và lực lượng lao động,. Mục tiêu xếp hạng tín dụng cá nhân vay tiêu dùng Các TCTD thực hiện XHTD cá nhân vay tiêu dùng nhằm đạt được những mục tiêu sau: - Nhằm quản lý rủi ro tín dụng, để tối đa hóa tỷ suất thu nhập đã được điều chỉnh bởi rủi ro tín dụng trong phạp vi hợp lý, chấp nhận được. - Tiết kiệm thời gian, giảm bớt sự can thiệp bằng những đánh giá chủ quan của con người đối với khách hàng xin cấp tín dụng.
- Làm căn cứ để các TCTD đưa ra các quyết định cấp tín dụng, và đưa ra cảnh báo sớm đối với những trường hợp có mức rủi ro cao. - Làm bộ chỉ tiêu thống nhất trong xét duyệt hồ sơ xin cấp tín dụng, đảm bảo tính công bằng giữa các khách hàng. Vai trò của xếp hạng tín dụng cá nhân vay tiêu dùng Đối với các Tổ chức tín dụng Hệ thống XHTD hiệu quả cho phép các TCTD quản lý và giảm sát những thay đổi và xu hướng thay đổi mức độ rủi ro của người vay hoặc các khoản tín dụng, đồng thời tối ưu hóa lợi nhuận cho các TCTD (Nguyễn Văn Tuân, 2013). Vai trò của hệ thống XHTD thể hiện ở những điểm chính sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Hỗ trợ phê duyệt tín dụng: Hệ thống XHTD hiệu quả cho phép các TCTD cải thiện tính chính xác việc ra quyết định cấp tín dụng, cung cấp phương tiện hỗ trợ để quá trình này trở nên hiệu quả, tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm bớt sự can thiệp từ con người.
Trong giai đoạn thẩm định, kết quả XHTD được sử dụng để quyết định việc đồng ý hay từ chối cấp tín dụng cho khách hàng, tối ưu hóa tỷ lệ phê duyệt các đề nghị vay vốn thông qua việc xác định một mức điểm từ chối. - Thực hiện quản trị rủi ro tín dụng: Hệ thống XHTD là một công cụ để đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng. Hệ thống XHTD chuẩn mực sẽ giúp các TCTD đánh giá được một khách hàng “tốt” hoặc “xấu” xét về khả năng trả nợ, cũng như xác định xác suất vỡ nợ của người vay, nhờ tích hợp trong nó các nguyên tắc, chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của các TCTD. Hệ thống XHTD tạo ra một căn cứ độc lập để TCTD đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi ro của các bộ phận có trách nhiệm liên quan, bảo đảm rằng chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn, và khả năng phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu.
- Hỗ trợ xác định lãi suất cho vay: Mức lãi suất cho vay phải phù hợp và đủ để bồi hoàn tổn thất tín dụng, và tương ứng với mức độ rủi ro. XHTD thực hiện chức năng phân loại các mức độ rủi ro, và là một trong những căn cứ tin cậy để định giá các khoản tín dụng, theo nguyên tắc mức XHTD thấp (rủi ro cao) sẽ tương ứng với mức lãi suất cao và ngược lại. - Hỗ trợ quản lý và quản trị khách hàng: Quan hệ khách hàng của các TCTD phụ thuộc vào mức độ XHTD của khách hàng đó.