lời mở đầu, kết luận, những từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề án đƣợc chia làm 4 phần chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình quản trị nhân lực số của Báo chí Chƣơng 2: Thực trạng xây dựng mô hình quản trị nhân lực số của Báo Tài nguyên và Môi trƣờng Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao xây dựng mô hình quản trị nhân lực số của Báo Tài nguyên và Môi trƣờng 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC SỐ CỦA BÁO CHÍ 1. Quản trị nhân lực Quản trị nhân lực là tổng thể chính sách, mục tiêu quản lý cấu thành nên mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên của doanh nghiệp đó. Đây chính là nền tảng để các nhà quản trị và nhân viên trong doanh nghiệp vận hành và phát triển bộ máy của DN nhằm giảm tối đa tính lãng phí nguồn nhân lực, qua đó phát huy hết khả năng tiềm ẩn của mỗi con ngƣời trong tổ chức. Có nhiều cách hiểu về Quản trị nhân lực (còn gọi là quản trị nhân sự, quản lý nhân sự, quản lý nguồn nhân lực).
Khái niệm quản trị nhân lực có thể đƣợc trình bày ở nhiều góc độ khác nhau: Theo tác giả Nguyễn Hữu Thân, “Quản trị nhân lực là một bộ phận không thể thiếu của quản lý sản xuất kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lƣợng và chất lƣợng ngƣời làm việc cần thiết cho tổ chức để đạt mục tiêu đạt ra; tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phƣơng pháp tốt nhất để con ngƣời có thể đóng góp nhiều sức lực cho các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con ngƣời” (Nguyễn Hữu Thân 2002). Một khái niệm khác cho rằng: Quản trị nhân lực (hay còn gọi là “Quản lý nhân sự” hay “Quản lý lao động”) là việc theo dõi, hƣớng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lƣợng, tinh thần, bắp thịt) giữa con ngƣời với các yếu tố vật chất tự nhiên (công cụ, đối tƣợng lao động và năng lực) trong quá trình tạo ra của cải vật chất, để thoả mãn nhu cầu con ngƣời, nhằm duy trì, sử dụng và phát triển tiềm năng vô tận của con ngƣời. - Với tƣ cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì QTNL bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hóa), tổ chức, chỉ huy và kiểm 10 soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng, và phát triển con ngƣời để có thể đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức. - Đi sâu vào việc làm của QTNL, ngƣời ta còn có thể hiểu QTNL là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó.
Song dù ở giác độ nào thì QTNL vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lƣợng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng. Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển và hội nhập với thế giới đã mở ra nhiều cơ hội việc làm ở các lĩnh vực khác nhau trong doanh nghiệp. Việc tuyển đƣợc nhân viên liên quan đến quản trị nhân sự tài năng chính là then chốt đón đầu tƣơng lai thành công của các công ty, doanh nghiệp. Qua các khái niệm trên, quản trị nhân lực có thể hiểu là khoa học về quản lý con ngƣời dựa trên niềm tin cho rằng nhân lực đóng vai trò quan trọng bậc nhất tới sự thành công lâu dài của doanh nghiệp, là quá trình phân tích, đánh giá, hoạch định, quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng ngƣời lao động một cách hiệu quả, tận dụng kinh nghiệm và sự khéo léo của họ nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đặt ra. Quản trị nhân lực nhằm mục đích tuyển chọn đƣợc những ngƣời có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen thƣởng kết quả hoạt động cũng nhƣ phát triển năng lực của họ. Quản trị nhân lực số Khái niệm “số” Nhắc tới khái niệm “số”, đây là một thuật ngữ đƣợc cắt nghĩa trên nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau. Về cơ bản đối với đề tài này ta có thể xem xét trên khía cạnh “số hóa dữ liệu”, “số hóa quy trình”, “chuyển đổi số”.
Thứ nhất, về khái niệm “chuyển đổi số” Theo dự án The Enterprises Project: Chuyển đổi số là việc tích hợp công nghệ và kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của doanh nghiệp, thay đổi cơ bản cách bạn vận hành và cung cấp giá trị cho khách hàng. Đó cũng là một sự thay đổi văn hóa đòi hỏi các tổ chức phải liên tục thách thức hiện trạng, thử nghiệm và thoải mái với thất bại. Theo Hans Gillior của Atmosphere thì có nêu ra định nghĩa chuyển đổi số là một thuật ngữ rộng mô tả sự chuyển đổi mà một tổ chức trải qua để trang bị cho mình để hƣởng lợi từ việc tạo và trao đổi giá trị kỹ thuật số. Theo “Đề án chuyển đổi số quốc gia” của Cục Tin học hóa thì Chuyển đổi số (Digital Transformation) là việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi một cách tổng thể và toàn diện tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tái định hình cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau.
Theo đề tài “Chuyển đổi số: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất cho doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Quang Huy và Đặng Minh Anh -trường Đại học Ngoại Thương cho rằng: Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi từ một doanh nghiệp truyền thống thành doanh nghiệp số bằng cách thay đổi phƣơng thức điều hành lãnh đạo, văn hóa công ty, quy trình làm việc.Chuyển đổi số sẽ giúp doanh nghiệp thay đổi mô hình kinh doanh; áp dụng công nghệ (nhƣ IoT, Big Data, Cloud Computing…) nhằm đổi mới cách thức làm việc với khách hàng và đối tác. Quá trình này cũng sẽ thay đổi quy trình, thói quen làm việc.của ngƣời lao động từ việc lệ thuộc hồ sơ, giấy 12 tờ truyền thống (hóa đơn giấy, báo cáo đƣợc in ấn…) sang việc sử dụng hóa đơn điện tử, đọc báo cáo qua ứng dụng. Như vậy, có thể thấy rằng “chuyển đổi số” là việc vận dụng tính luôn đổi mới, nhanh chóng của công nghệ kỹ thuật để giải quyết vấn đề, mô tả những hoạt động đổi mới một cách mạnh mẽ và toàn diện trong cách thức hoạt động của toàn doanh nghiệp, ở tất cả những khía cạnh nhƣ cung ứng, sản xuất, hợp tác, mối quan hệ khách hàng hoặc thậm chí là tạo ra những doanh nghiệp mới với cách thức hoạt động mới m hoàn toàn. Thứ hai, về khái niệm “Số hóa dữ liệu” và “số hóa quy trình”.
Đây đều là hai khái niệm xuất phát từ khái niệm về “số hóa”. Theo cuốn Từ điển kinh tế-businessdictionary.com, năm 2020 thì “số hóa” là sự tích hợp của các công nghệ kỹ thuật số vào cuộc sống hàng ngày bằng cách số hóa mọi thứ có thể đƣợc số hóa (tiến hóa kỹ thuật và hành vi của khách hàng). Và định nghĩa này có ngụ ý rằng số hóa là một xu hƣớng lớn ảnh hƣởng và thay đổi cuộc sống hàng ngày của chúng ta khi sự ra đời của các công nghệ kỹ thuật mới tiếp tục không suy giảm- theo lời nhận định của Hans Gillior trên “atmosphere”. Theo đề tài nghiên cứu “Số hóa và chuyển đổi số trong hoạt động thư viện” của tác giả Trần Đức Tân, Phạm Thị Thu có viết rằng khi chuyển tất cả các bản ghi trên giấy sang các tệp máy tính kỹ thuật số, đây đƣợc gọi là số hóa (Digitization), trái ngƣợc so với quá trình chuyển đổi từ analog ở thế giới thực sang kỹ thuật số, đây đƣợc gọi là bƣớc tin học hóa, là một thành phần của quá trình chuyển đổi số.
Nhƣ vậy, về cơ bản, “số hóa” là quá trình chuyển đổi thông tin trên giấy và các quy trình thủ công thành định dạng kỹ thuật số trong đó thông tin đƣợc tổ chức thành các bit và byte. Dữ liệu không bị thay đổi - nó chỉ đơn giản đƣợc mã hóa theo định dạng kỹ thuật số. Mặc dù dữ liệu đƣợc lƣu trữ ở dạng vật lý (analog data) thƣờng ổn định hơn, nhƣng dữ liệu số có thể dễ dàng đƣợc chia 13 s và truy cập hơn và theo lý thuyết, có thể đƣợc truyền đi vô thời hạn, không bị mất mát qua thời gian và qua các lần sao chép dữ liệu, miễn là nó đƣợc chuyển sang các định dạng mới, ổn định. “Chuyển đổi số” (Digital Transformation) có thể dễ bị nhầm lẫn với khái niệm “Số hóa” (Digitizing).
Để phân biệt hai khái niệm này, có thể hiểu rằng “Số hóa” là quá trình hiện đại hóa, chuyển đổi các hệ thống thƣờng sang hệ thống kỹ thuật số (chẳng hạn nhƣ chuyển từ tài liệu dạng giấy sang các file mềm trên máy tính, số hóa truyền hình chuyển từ phát sóng analog sang phát sóng kỹ thuật số.); trong khi đó, “Chuyển đổi số” là khai thác các dữ liệu có đƣợc từ quá trình số hóa, rồi áp dụng các công nghệ để phân tích, biến đổi các dữ liệu đó và tạo ra các giá trị mới hơn. Có thể xem “Số hóa” nhƣ một phần của quá trình “Chuyển đổi số” Từ khái niệm “số hóa” có thể hiểu “số hóa dữ liệu” và “số hóa quy trình”, cơ bản nhƣ sau: Số hóa dữ liệu là quá trình chuyển đổi dữ liệu từ dạng analog sang định dạng kỹ thuật. Số hóa quá trình là quá trình xử lý dữ liệu để đơn giản và tự động hóa quy trình. Số hóa liên quan đến việc tạo ra văn hóa sử dụng công nghệ để điều hành doanh nghiệp.
Khái niệm Quản trị nhân lực số Từ những khái niệm liên quan, khái niệm “quản trị nhân lực số” đƣợc hình thành: Trong đề án “Nghiên cứu về đóng góp của quản lý nguồn nhân lực số đối với hiệu suất tổ chức” của Tiến sĩ A.Varadaraj, Tiến sĩ Belal Mahmound viết rằng “Quản trị nguồn nhân lực số” là nâng cấp kỹ thuật số trong lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực. Quá trình làm việc của HRM sẽ diễn ra thông qua phƣơng tiện di động, phƣơng tiện truyền thông điện tử, phƣơng tiện truyền thông xã hội thông qua Internet và cùng với sự trợ giúp của CNTT (công nghệ 14 thông tin).