Chương 1: Cơ sở lý luậnvà thực tiễn về mô hình quản lý khai thác hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn Chương 2: Thực trạng công tác quản lý, khai thác hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Lào Cai Chương 3: Đề xuất mô hình quản lý khai thác hệ thống cấp nước sinh hoạtphù hợp cho khu vực nông thôn tỉnh Lào Cai 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG CẤP NƢỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm 1. Mô hình quản lýkhai thác cấp nƣớc sạch nông thôn 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và kháng thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Quản lý là một phạm trù với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động, bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung. Quản lý có thể được hiểu là các hoạt động nhằm bảo đảm hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác. Hoạt động quản lý phải trả lời các câu hỏi như phải đạt được mục tiêu nào đã đề ra? phải đạt mục tiêu như thế nào và bằng cách nào? phải đấu tranh với ai và như thế nào? có rủi ro gì xảy ra và cách xử lý? Như vậy, quản lý không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động để liên kết và phối hợp hoạt động chung của một tập thể.
Mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn Hiện nay các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn đã có nhiều mô hình về quản lý khai thác dịch vụ cấp nước sạch như: tổ hợp tác dùng nước, HTX dịch vụ nước sạch, doanh nghiệp tư nhân, Trung tâm NS&VSMT tỉnh 7 trực tiếp quản lý khai thác công trình,… Các mô hình này đã và đang hoạt động có hiệu quả và đang tiến dần đến các mô hình bền vững. Có thể hiểu: Mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt là kiểu mẫutổ chức được thành lập để giải quyết các nhu cầu về nước sạch, là đầu mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chương trình dự án, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hoá, nơi thực hiện công tác vận động nâng cao nhận thức về nước sạch – vệ sinh nông thôn. Hệ thống cấp nƣớc Trong luận văn, một số khái niệm được hiểu thống nhất như sau: Nông thôn: Là khu vực có trên 50% dân cứ sống dựa vào nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở ở mức độ nhất định và có số dân từ 4. Bao gồm các làng xã và các đô thị nhỏ loại 5.
Nước hợp vệ sinh: Là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người có thể dùng ăn uống sau khi đun sôi. Nước sạch: theo Tiêu chuẩn 09/2005/QĐ-BYT, là nước dùng cho mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp. Nếu dùng trực tiếp cho ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sunh nước ăn uống ban hành kèm theo Quyết định số 1329/QĐ số 1329/QĐ-BYT ngày 18- 04-2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Hệ thống cấp nước nông thôn: là tập hợp các hạng mục công trình: đầu mối thu nước, bể lọc, bể áp lực, các loại hố van, vòi, bể chứa nước hộ gia đình và được liên kết với nhau bằng hệ thống tuyến ống áp lực.
(Hình 1-1) 8 Hình 1-1: Sơ đồ hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn miền núi điển hình 1. Tổng quan về hệ thống cấp nƣớc nông thôn 1. Vai trò của hệ thống cấp nƣớc nông thôn Cấp nước sạch nông thôn gắn liền với sự nghiệp xoá đói giảm nghèo và xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn. Nước sạch cho sinh hoạt là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống.
Cung cấp nước sạch là một phần quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo tại khu vực nông thôn. Thiếu nước sạch và sự tồn tại dai dẳng của những thói quen sống thiếu vệ sinh đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế tại khu vực nông thôn và tạo thành “gánh nặng quá tải” đè lên hệ thống y tế. Tỷ lệ cấp nước hợp vệ sinh ở nhóm 20% người nghèo nhất chỉ đạt 22% so với 78% ở nhóm 20% người giàu nhất. Các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có tỷ lệ cấp nước và vệ sinh thấp nhất.
Đối với những người dân và cộng đồng dân cư không có đủ nước sạch và vẫn giữ thói quen sinh hoạt mất vệ sinh, cho dù điều kiện kinh tế, thu nhập có tăng lên, thì chất lượng cuộc sống vẫn rất thấp. Vì vậy, công trình cấp nước tập trung nông thôn có vai trò sau: - Hệ thống cấp nước nông thôn là mô hình cấp nước sạch tiên tiến so với các công trình cấp nước nhỏ lẻ phổ biến như nước mặt từ ao hồ sông suối, 9 giếng đào, giếng khoan, nước mưa. Chất lượng vệ sinh nước cấp qua hệ thống cấp nước dễ quản lý hơn. Cấp nước tập trung tránh cho cộng đồng bị nhiễm các bệnh do sử dụng nước không hợp vệ sinh gây ra (sốt rét, sốt phát ban, sốt xuất huyết, giun chỉ, bệnh phụ khoa, bệnh ngoài da, bệnh đường ruột,…).
Trong khi công trình cấp nước nông thôn là một giải pháp về mặt kinh tế thì chi phí cho các công trình cấp nước nhỏ lẻ lại rất cao so với thu nhập của người dân nông thôn. Bên cạnh đó công trình nước nông thôn còn có khả năng đáp ứng về mặt kỹ thuật nhu cầu mở rộng số lượng đối tượng được cấp nước, nâng cao chất lượng và các dịch vụ cấp nước khi điều kiện đời sống người dân khu vực được cải thiện. - Hệ thống cấp nước tập trung nông thôn là một kênh phù hợp nhất để chính phủ hỗ trợ cộng đồng dân cư. Tại Việt Nam, người dân thành phố được sử dụng nước máy cách đây hằng trăm năm, trong khi vùng nông thôn nước máy mới đến được với người dân chưa lâu (khoảng 15 năm tùy từng khu vực) có những nơi còn chưa có nước máy để sử dụng.
Khi sử dụng công trình cấp nước nhỏ lẻ thì tùy từng điều kiện kinh tế của mỗi hộ, các thiết bị được sử dụng khác nhau. Vì lý do kinh tế hộ giàu dễ được sử dụng nước sạch còn các hộ nghèo thường gặp khó khăn tuy nhiên với hệ thống cấp nước tập trung, các hộ sẽ bình đẳng trong việc được cấp nước điều này làm xóa đi mặc cảm khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ dân sống trong cùng một cộng đồng.Nước sạch gắn liền với vấn đề vệ sinh và sức khỏe, không có nước sạch sẽ làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của mỗi cá nhân trong gia đình đặc biệt là thế hệ trẻ, các hộ nghèo thiếu nước sạch sẽ khó thoát nghèo và dễ tái nghèo do thiếu sức khỏe. - Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của gia đình, công trình cấp nước tập trung nông thôn sẽ làm giảm đi gánh nặng của phụ nữ, giải phóng sức lao động nông thôn đặc biệt là những vùng kinh tế hộ chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Về mặt xã hội, cấp nước tại 10 vòi đến từng hộ gia đình sẽ làm giảm đáng kể khối lượng việc nhà của phụ nữ (do không phải đi lấy nước, lọc nước,…) tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội, góp phần đem lại bình đẳng giới ở nông thôn.
Tình hình đầu tƣ xây dựng hệ thống CNNT ở nƣớc ta Từ năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh nông thôn với mục tiêu đến năm 2020: tất cả cư dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60lít/người/ngày, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và thực hiện vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã. Trong đó, Chương trình là công cụ để thực hiện Chiến lược Quốc gia. Chương trình đã thực hiện qua 02 giai đoạn: 2000 - 2005, 2006 - 2010. Ngày 31/3/2012, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT giai đoạn 2012 - 2015 tại Quyết định số 366/QĐ-TTg với các mục tiêu đến năm 2015 đảm bảo: 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn QCVN 02-BYT với số lượng ít nhất là 60 lít/người/ngày.
Theo báo cáo của Trung tâm nước sạch và VSMT NT Quốc gia, kết quả thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2013 thể hiện tại Bảng 1. Bảng 1-1: Tỷ lệ dân số nông thôn trong toàn quốc được CNSH Mục Kết quả thực hiện Đơn vị tiêu Mục tiêu Ƣớc tính theo 2012 2013 2014 QĐ 366 - Luỹ tích tỷ lệ dân nông thôn được % 85 80.5 82,5 84,0 sử dụng nước hợp vệ sinh (HVS) - Luỹ tích tỷ lệ dân nông thôn được % 45 35 38,7 42 sử dụng nước đạt Qui chuẩn 02 (Nguồn: BC của Trung tâm NS và VSMT nông thôn Quốc gia, năm 2014) 11 Từ kết quả đạt được của các vùng miền cho thấy tỷ lệ đạt thấp tập trung ở vùng miền núi phía Bắc (80%), Bắ c Trung Bô ̣ (75%) và Tây Nguyên (80%), đây là những vùng có tỷ lệ cao về người nghèo, dân tộc thiểu số. Tình hình huy động các nguồn lực đầu tƣ xây dựng công trình: Tổng kinh phí huy động thực hiện Chương trình 2012 - 2014 ước đạt 75,6% so với Quyết định 366/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.