Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC SUẤT VỠ NỢ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp 1.1 Xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp Xác suất vỡ nợ là khả năng một doanh nghiệp sẽ không thể hoàn trả nợ gốc, nợ lãi theo lịch trình, cam kết đã định trước. Khi người cho vay ước tính một doanh nghiệp có xác xuất vỡ nợ cao thì họ sẽ đưa ra một mức lãi suất cho vay cao hơn, như là một khoản bồi thường cho việc chấp nhận rủi ro cao hơn đó. Theo giải thích của Basel II thì: “Xác suất vỡ nợ được xem là một chỉ báo rủi ro tín dụng, nó cho thấy khả năng xảy ra việc một khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính theo cam kết ban đầu”. Xác suất vỡ nợ có thể được ước tính riêng cho từng khách hàng, hoặc cũng có thể được ước tính cho một danh mục bao gồm nhiều khách hàng có các đặc điểm tương đồng.
Các tổ chức tài chính sử dụng xác suất vỡ nợ của khách hàng để tính toán tổn thất dự tính, tính toán yêu cầu vốn tối thiểu trong khuôn khổ của Basel. Một khách hàng được Basel định nghĩa là không có khả năng trả nợ như sau: “Trường hợp khách hàng không trả được nợ được cho là xảy ra khi một trong hai hoặc là cả hai sự kiện sau đây xảy ra: Thứ nhất, ngân hàng đánh giá rằng khách hàng không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; Thứ hai là khách hàng đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Thấu chi cũng được xem là một dấu hiệu của mất khả năng trả nợ nếu khách hàng phá vỡ hạn mức đã được thông báo trước đó hoặc bị ngân hàng thông báo một hạn mức nhỏ hơn dư nợ hiện tại của mình.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Các nghiên cứu trên Thế giới đều thống nhất quan điểm phân chia các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp thành 02 nhóm chính, bao gồm nhóm các yếu tố thuộc về vĩ mô và nhóm các yếu tố thuộc nội tại các doanh nghiệp.1 Các yếu tố vĩ mô Yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ doanh nghiệp được định nghĩa là những thông tin của nền kinh tế gây ảnh hưởng chung đến mọi doanh nghiệp vay nợ. Trong nghiên cứu của mình, Qu (2006) đã tiến hành thực hiện phân tích tìm ra các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của các công ty tại thị trường Thuỵ Điển.
Đồng thời, đặt trong so sánh với các nghiên cứu cùng chủ đề được thực hiện tại các quốc gia: Đan Mạch, Na-Uy, Phần Lan, Anh, Đức và Mỹ cũng cho thấy các kết quả khá tương đồng, cho thấy các biến vĩ mô sau đây có ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ: Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) GDP là giá trị bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP được đánh giá là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó. Trong nghiên cứu tác động của GDP lên xác suất vỡ nợ, GDP được hiểu là tổng cầu của cả nền kinh tế một quốc gia và tổng cầu có liên quan mật thiết đến doanh số bán hàng của các doanh nghiệp. Tốc độ tăng GDP thấp có nghĩa là tốc độ tăng doanh số bán hàng của doanh nghiệp cũng thấp, và doanh số thấp dẫn đến sự gia tăng trong khả năng một doanh nghiệp không thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình.
Do vậy, tốc độ tăng GDP tương quan nghịch với xác suất vỡ nợ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI dùng để đo lường thay đổi chi phí của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định, thường gồm các lĩnh vực nhà ở, điện, thực phẩm và giao thông. CPI thường được dùng như dấu hiệu đo lường lạm phát. Lạm phát cũng được xem là một nguy cơ tiềm ẩn khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nó thúc đẩy mọi người dùng tiền tiết kiệm đang có để đầu tư, điều này hàm ý mọi người đang chấp nhận nhiều rủi ro hơn để đầu tư.
Do vậy, nghiên cứu của Qu (2006) chỉ ra rằng, CPI có quan hệ cùng chiều với xác suất vỡ nợ. Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số những người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao luôn dẫn đến nhiều vấn đề cho nền kinh tế nói riêng và cho cả xã hội nói chung. Do vậy, tỷ lệ thất nghiệp tương quan thuận với xác suất vỡ nợ của một doanh nghiệp.
Lãi suất Đa số các doanh nghiệp đều tài trợ một phần cho các nhu cầu hoạt động sản suất kinh doanh bằng việc vay nợ. Về mặt lý thuyết, lãi suất đại diện cho chi phí một người phải trả khi đi vay mượn. Khi lãi suất tăng sẽ làm cho một số doanh nghiệp đi vay bị “ra khỏi thị trường”, tức là họ sẽ không thể chi trả cho các khoản nợ hiện hữu nếu không vay thêm nợ hoặc gia tăng thêm vốn. Lãi suất tăng cũng có nghĩa là chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng, kéo theo là sự gia tăng của xác suất vỡ nợ.
Lãi suất tương quan thuận với xác suất vỡ nợ. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là giá so sánh giữa đồng tiền nội tệ của một quốc gia với đồng tiền ngoại tệ của một quốc gia khác. Những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp lại tương đối khó xác định: tương quan giữa hai yếu tố này là thuận hay nghịch lại phụ thuộc vào đó là doanh nghiệp xuất khẩu hay nhập khẩu, hay vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu.2 Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp được định nghĩa là những thông tin đặc thù của một doanh nghiệp cụ thể, có thể kể ra như: Tốc độ tăng trưởng doanh số Tốc độ tăng trưởng doanh số được xem là chỉ báo quan trọng cho thấy tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đó đang trong giai đoạn ổn định, phát triển hay suy thoái.
Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng doanh số cao và gia tăng hàm ý rằng khả năng trả nợ của doanh nghiệp cũng tăng (xác suất vỡ nợ giảm). Tỷ lệ đòn bẩy tài chính Về mặt nguyên tắc, một doanh nghiệp càng thiên về cấu trúc vốn sử dụng nợ nhiều thì xác suất vỡ nợ càng tăng. Khi tình hình của ngành kinh doanh hay tình hình kinh tế chung có nhiều bất ổn, nợ vay trở thành gánh nặng tài chính, doanh nghiệp vay nhiều nợ khó có thể đáp ứng các nghĩa vụ đối với người cho vay.2 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 1.1 Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Ngân hàng cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế, đều hoạt động trên nguyên lý tối đa hoá lợi nhuận trong khoảng rủi ro có thể chấp nhận được. Do vậy, rủi ro là nhân tố luôn luôn tồn tại trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Hoạt động ngân hàng bao gồm: “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hay một số nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản” (Luật các TCTD năm 2010). Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng được Thông tư số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013 định nghĩa là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Theo Bessis (2001) thì rủi ro tín dụng được hiểu là “những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay”. Vậy tóm lại, có thể nói rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng được xem là loại rủi ro trọng yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bởi lẽ: cấp tín dụng hiện nay vẫn là hoạt động chủ lực của các NHTM Việt Nam. Nguồn thu nhập của NHTM có thể chia làm 02 loại: Thu nhập thuần từ lãi và thu nhập thuần ngoài lãi.
(ii) Thu nhập thuần ngoài lãi bao gồm số thu phí dịch vụ; thu kinh doanh ngoại tệ, vàng, bạc; thu hoàn dự chi và thu khác. Khi nói hoạt động cấp tín dụng hiện vẫn là hoạt động chủ lực của các NHTM Việt Nam có nghĩa là, trong giai đoạn hiện tại thì nguồn thu nhập thuần từ lãi là nguồn thu nhập chiếm tỷ trọng cao nhất của các NHTM Việt Nam. So với các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương khác thì các ngân hàng thương mại tại Việt Nam có tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi thấp hơn, chi tiết xem ở Bảng 1. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi của một số quốc gia năm 2012 Quốc gia Úc Trung Quốc Singapore Thái Lan Việt Nam Tỷ lệ thu nhập 33% 21% 40% 36% 14% thuần ngoài lãi (Nguồn: KPMG, Khảo sát về Ngành Ngân hàng Việt Nam năm 2013) Theo số liệu thống kê từ 10 NHTM tại Việt Nam được trình bày tại Bảng 1.2 cho thấy tỷ lệ thu nhập từ lãi trong tổng thu nhập của các ngân hàng đều rất cao, bình quân là từ 75% đến 90%.